Paticcasamuppada 047
Đạo là chi ? Đạo là đi ngược dòng Đời. Con đường Đời hoặc dòng đời thì Tham, Sân, Si; thế nhưng con đường Đạo thì Ly Tham, Ly Sân, Ly Si. Đạo ở đây là Bát Thánh Đạo, hoặc Đạo Đế là con đường tu tập, phương thức tu tập để ngăn ngừa, và dập tắt Tập khởi sinh ra Khổ. Thế nhưng khi nào có Bát Thánh Đạo và khi nào là Bát Chánh Đạo ?
. Bát Thánh Đạo là con đường mà Bậc Thánh Nhân đã đi qua, đã chứng tri để trở thành Bậc Thánh nên gọi là Bát Thánh Đạo. Bậc Thánh Nhân đã được thanh tịnh bởi Giới, Định Tâm kiên cố, và Trí Tuệ sáng suốt. Các Ngài luôn luôn sống trong Giới, Định, và Tuệ đi cùng, hoặc Bát Thánh Đạo luôn có trong các Bậc Thánh Nhân vì họ là những Bậc đã chứng tri và luôn luôn thể nghiệm Bát Thánh Đạo trong phương thức sinh hoạt.
. Bát Thánh Đạo là Tam Vô Lậu Học, đó là Giới Vô Lậu Học, Định Vô Lậu Hoc, và Tuệ Vô Lậu Học đã được các Bậc Thánh chứng tri và diệt tận Lậu Hoặc. Phàm Phu được nghe và biết về Bát Thánh Đạo do bởi Bậc Thánh nói lại cho nghe. Phàm Phu còn đang trên con đường tu tập tám điều Chân Chính này, cho nên đối với Phàm Phu chỉ được gọi là Bát Chánh Đạo, cho đến khi tám điều này được tu tập hoàn mãn trở thành Thánh Thiện, và Phàm Phu liễu tri và chứng ngộ qua tám điều Thánh Thiện này và trở thành Bậc Thánh thì khi ấy đối với Bậc đã được chứng tri là Bát Thánh Đạo.
Bát Thánh Đạo được lần lượt giới thiệu qua những đoạn sau đây:
(1) Chánh Kiến (Sammādiṭṭhi): Được đưa lên trước trong Bát Chánh Đạo như trí tuệ phải là hàng đầu trong sự tu tập. Như đã nêu ở trong phần Tập Đế, Vô Minh là căn cội, nguồn gốc của mọi khổ đau, như câu “Chúng sinh già chết khổ sầu, bởi do Pháp Lậu dẫn đầu Vô Minh”. Vậy nếu sáng suốt thì không tạo tác, không nhiễm đắm, không bị cuốn hút trong vòng sinh tử luân hồi. Vậy để có sáng suốt thì phải có Tuệ phần, Chánh Kiến và Chánh Tư Duy. Trí Tuệ là nền tảng để đưa đến mọi Thiện Pháp và dẫn dắt ra khỏi Vô Minh. Vì lẽ ấy trong Bát Chánh Đạo, thì Tuệ Phần, Chánh Kiến được đưa lên trước tiên. Bạn có thể có ý nghĩ về Chánh Kiến như là sự hiểu biết đúng đắn, chân thật của một vấn đề mà không bị sai lệch. Trong Đạo Phật ý nghĩa rốt ráo Chánh Kiến của Bậc Thánh là có tri kiến chân thật về Tứ Thánh Đế, đó là Khổ Đế, nguyên nhân của mọi sự khổ, Sự Diệt tận khổ, và con đường tu tập dập tắt mọi nguyên nhân đưa đến khổ, là dập tắt Tập Đế làm cho không khởi sinh, và từ đó được đoạn lìa khổ.
Khi đang tu tập, chưa là Bậc Thánh thì chúng ta hiểu Chánh Kiến như thế nào ?
Chánh Kiến là thấy đúng, là thấy những chi ?
(1) Thấy đúng là thấy cái chi làm cho chúng ta khổ thì chúng ta phải buông bỏ; (2) Thấy đúng là thấy cái chi làm cho ta bớt khổ, hết khổ thì chúng ta phải giữ lấy; (3) Thấy đúng là quay về thấy chính mình, thấy Tâm của chúng ta, xem lại cái thấy của mình, xem lại xem chúng ta thấy đúng theo sự thật của sự việc, hay ta thấy đúng theo ý của ta theo sự hiểu biết sai lệch của ta. Vậy chúng ta phải xem xét lại.
Có ba điều nguy hiểm trong đời mà phát sinh ngã mạn nếu chúng ta không thấy, không biết đúng, đó là: (1) Nghĩ rằng chúng ta sống mãi mà không chết là nguy hiểm trong đời; (2) Nghĩ rằng là chúng ta khỏe mãi mà không bệnh, đó là nguy hiểm trong đời; (3) Nghĩ rằng là chúng ta trẻ mãi mà không già là nguy hiểm trong đời.
Nếu thấy đúng sự nguy hiểm của ba điều này thì con người ta sẽ mau mau mà lo tu. Tu để sữa những gì mà chúng ta đã thấy sai, đã chấp lầm, tà kiến. Có mấy thể loại tà kiến như sau: (1) Thấy sai chấp lầm về Thường Kiến và Đoạn Kiến; (2) Thấy sai chấp lầm về Vô Nhân Kiến, Vô Hữu Kiến, Vô Hành Kiến.
Khi thấy mình sai, biết mình sai và sữa lại cho đúng, đó là thấy đúng. Thế nhưng muốn thấy mình có sai và sữa sai thì phải có sự nghĩ suy, phản tĩnh lại, và sự nghĩ suy ấy là Tư Duy và như vậy chúng ta đi đến Chánh Tư Duy. Sự rốt ráo của Chánh Kiến trong tu tập giải thoát mọi uế nhiễm, phiền não, sinh tử luân hồi đó là Chánh Tri Kiến về bốn sự thật chân lý hay Tứ Thánh Đế, gồm Khổ Thánh Đế, Tập Thánh Đế, Đạo Thánh Đế, Diệt Thánh Đế.
(2) Chánh Tư Duy (Sammāsankappa): Là sự tư duy, suy nghĩ trong ly Tham, ly Sân, ly Oán Hận. Người có thấy đúng, biết đúng (có Chánh Kiến) thì suy nghĩ và tư duy với tâm ý không có tham lam, không có sân độc, không có oán hận cho dù sự việc đang xảy ra có bất toại nguyện như thế nào đi nữa. Trong cuộc sống của người bình thường không có sự tu tập thì hầu như tất cả mọi sinh hoạt qua nghĩ suy, hành động, hay lời nói (Thân, Lời, Ý) đều bắt nguồn từ tham lam, sân độc, và oán hận, hay do tham, sân, oán hận dẫn dắt. Nhưng do đâu mà có tư duy suy nghĩ trong tham, sân, và oán hận ? Đó là do không biết đúng, hay không có Chánh Tri Kiến, và do thói quen thường huân tập không qua có sự kiểm soát, tu tập. Có tri kiến đúng mới có tư duy suy nghĩ đúng, tư duy suy nghĩ không còn Tham, không còn Sân, không còn Oán Hận. Thế nhưng muốn có đuợc sự hiểu biết và nghĩ suy trong ly tham, ly sân, ly oán hận, phải có sự tu tập, sống chậm rãi, lúc nào cũng xem xét cái Tâm của mình, và phải có một đời sống tri túc, thu thúc các căn, chế ngự tham sân, và diệt trừ phiền não.
Ghi Nhớ:
(1) Chánh Kiến và Chánh Tư Duy là hai chi phần thuộc Tuệ Phần trong Bát Chánh Đạo; (2) Người không có tu tập, vì không thấy đúng, không thấy Vô Thường nên tham. Thấy được Vô Thường thì sẽ ly Tham; (3) Người không tu tập, vì không thấy đúng, không thấy Khổ Đau nên mới Sân, thấy được Khổ Đau thì sẽ ly Sân; (4) Người không tu tập, vì không thấy đúng, không thấy Vô Ngã nên mới oán hận, thấy được Vô Ngã thì ly oán hận.
Do có Chánh Kiến và Chánh Tư Duy mà người tu giữ được Giới hạnh trong sạch, không có Tà Ngữ, không có Tà Mạng, và Tà Nghiệp cho dù ở trong điều kiện nào đi nữa cũng không tác hành với. Trước khi đi vào từng chi phần của ba phần thuộc Giới phần của Bát Chánh Đạo, xin được sơ lược qua Bát Chánh Đạo - Giới Phần, ba chi của Ngăn Trừ Phần Tâm Sở gồm Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng. Những tâm sở này chỉ ở trong trạng thái hỷ thọ và xả thọ. Khi nói đến Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng thì nên nghĩ đến sự đối nghịch của chúng là Tà Ngữ, Tà Nghiệp, Tà Mạng.
Ngăn Trừ Phần có ba, đó là: (1) Giới Nguyện: Là phát nguyện giữ ngũ giới, bát giới, hay Tỳ Khưu giới. Người phát nguyện giữ giới có hai trường hợp là còn giữ được lời nguyện (giữ được giới của mình nguyện), hay đứt lời nguyện (đứt giới). Khi bị gãy lời nguyện hay đứt giới thì phải nguyện giới hay xin giới lại. Phải có trí tuệ biết được các chi phần của giới mới biết được mình còn có giới hay bị đứt giới. Giới Nguyện là giới dành cho Phàm Tam Nhân và ba Bậc Quả Hữu Học (Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả); (2) Giới Ngăn Ngừa: Là ngăn ngừa Thập Bất Thiện Nghiệp và Thập Ác Nghiệp. Để ngăn ngừa những Bất Thiện Nghiệp và Ác Nghiệp thì phải làm Thập Phúc Hành Tông và Thập Thiện Nghiệp. Trong tu tập, giới ngăn ngừa còn là ngăn ngừa kiết sử thói quen (tiềm thùy) của mình. Giới Ngăn Ngừa là giới dành cho Phàm Tam Nhân và ba bậc Quả Hữu Học (Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả); (3) Giới Sát Trừ: Là Giới dành cho các Bậc Thánh Nhân.
(3) Chánh Ngữ (Sammāvācā): Là việc nói lên những ngôn từ ở ngoài phần Tứ Ngữ Ác Hạnh, và bất hữu quan đến công việc sinh kế, là nghịch nghĩa với Tà Ngữ. Chánh Ngữ thuộc Ngăn Trừ Phần, ngăn trừ tứ ngữ ác hạnh. Chánh Ngữ do đâu mà có, là do thấy đúng, suy nghĩ chân chánh, suy nghĩ không Tham, không Sân, không Oán hận. Tất cả từ nơi Ý, Ý tạo ra lời nói, như vậy Ý nghĩ suy chân chánh thì lời nói ra được chân chánh. Nếu không có sự suy nghĩ chân chánh thì lời nói có khéo léo cũng không che đậy được. Điều này không khó mấy để nhận diện, vì nếu bạn đang nói về một người nào hoặc một vấn đề gì mà Tâm của bạn đang có Tham, Sân, hay Oán hận thì chắc chắn là những lời nói ấy không phải là Chánh Ngữ. (1) Vọng ngữ: Là những lời nói không đúng với sự thật; (2) Thô ác ngữ: Là những lời nói thô thiển, độc ác; (3) Ly gián ngữ: Là những lời nói chia rẽ, ly gián, cũng là lưỡng thiệt; (4) Hồ ngôn loạn ngữ: Là những lời nói vô ích.
Chánh Ngữ (Sammāvācā) bao gồm bốn chi, đó là: không nói vọng ngữ, không nói thô ác ngữ, không nói ly gián ngữ, và không hồ ngôn loạn ngữ. Bốn chi này của Chánh Ngữ thì khó mà thực thi nếu không có sự thấy đúng và tư duy chân chánh. Được gọi là lời nói Chánh Ngữ thì phải được trọn vẹn cả bốn chi phần tức là không bị phạm vào một trong Tứ Ngữ Ác Hạnh. Ai khéo léo giữ không cho phạm vào nói lời thô ác, nói lời ly gián, hay nói lời vọng ngữ, nhưng có thể lại nói lời vô ích. Lời nói rất quan trọng. Một lời nói ra được nên nhà nên cửa, hay một lời nói ra tan cửa tan nhà, cũng do một lời nói (Nhất Ngôn Hưng Bang, Nhất Ngôn Tán Bang). Đức Phật nói có hai điều có năng lực phi thường, đó là Chân Ngôn (Saccavācā) và Chân Hạnh (Saccakiriya) có nghĩa lời nói chân thật, hành động chân thật. Lời nói đem lại sự an vui cho người, cho mình, và không bị hối tiếc về sau, đó là chân ngôn.
Tại sao chúng ta còn nói, là vì chúng ta không biết quý thời gian để tu tập trau giồi Định Tâm và Trí Tuệ. Nếu chúng ta dành thời gian tu tập Định Tuệ thì chúng ta không có thời gian để nói. Chánh Ngữ là để trong sinh hoạt đời sống hàng ngày và nếu chúng ta bớt đi những sinh hoạt không cần thiết thì sẽ tránh bớt nhiều lời, cho dù là Chánh Ngữ. Còn nhiều lời thì còn có nhiều cơ hội để phạm vào Tà Ngữ. Dù có khéo léo như thế nào đi chăng nữa, và dù có tỉnh giác đi nữa, thế nhưng khi chưa là Bậc Thánh thì chúng ta vẫn còn Ngữ Nghiệp, và Chánh Ngữ của chúng ta bị sứt mẻ, và có nhiều điều kiện để rơi vào Tà Ngữ, vậy chi bằng bớt dùng lời, bớt nói để thời gian tu tập, xem xét Tâm Ý của mình. Chánh Ngữ cũng có hai loại là Chánh Ngữ trong Đời (Thế Gian, hay Hiệp Thế) và Chánh Ngữ trong Đạo (hay Siêu Thế). Đa phần Phàm Phu cho dù có Chánh Ngữ tức là không dùng ly gián ngữ, không có hồ ngôn loạn ngữ, không có vọng ngữ, không có thô ác ngữ, thế nhưng những chuyện họ nói toàn là chuyện Hiệp Thế trong thế gian, ví như nói về kinh tế, xã hội, kỹ thuật, thi ca, v.v. Những Ngữ Nghiệp loại này dễ làm điều kiện cho sự tranh luận, khen chê, đưa đến Tham, Sân, Oán Hận, và làm tăng trưởng Ái Dục, rồi đưa đến khổ đau. Lời nói của Bậc Thánh là Thánh Ngữ, là loại Chánh Ngữ Siêu Thế, giúp người ta ly Ái Dục, diệt Tham, Sân, Tà Kiến, và đưa người đến sự tu tập để giải thoát. Chánh Ngữ là một trong chi của Giới Đạo trong Bát Chánh Đạo, giữ lời nói cho đúng đắn, ngăn ngừa những lời nói không đúng với sự thật, lời nói thô thiển, hung ác làm tổn thương đến người. Nói dối, nói lời thô ác, nói lời đâm thọc, nói lời vô ích là nguyên nhân của phiền não, khổ đau, là Tập Đế đưa đến Khổ Đế. Thực hành Chánh Ngữ để giữ bốn giới về Lời, và để ngăn trừ mầm sinh ra khổ. Chánh Ngữ cũng là một Tâm Sở trong hai mươi lăm Tâm Sở Tịnh Hảo, tức là những Tâm Sở đượ phối hợp với Tâm Thiện. Như vậy Chánh Ngữ không đi chung với Tâm Bất Thiện. Hoặc Chánh Ngữ là một trong ba chi của Ngăn Trừ Phần Tâm Sở làm việc ngăn trừ Tứ Ngữ Ác Hạnh. Trong ba nghiệp về Thân, Lời, và Ý thì phạm vào Ngữ nghiệp thì nặng tội hơn là Thân nghiệp hoặc Ý nghiệp. Cũng có câu rằng “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Ở đây cũng xin chia sẻ thêm rằng, Chánh Ngữ không phải là dễ thực hiện, vì rất tinh vi qua sự ứng dụng hay tu tập để giữ cho không phạm vào tứ ngữ ác hạnh. Thêm nữa không được gọi là Chánh Ngữ nếu như mà lời nói không hợp thời, không đúng nơi, không đúng đối tượng nghe, không có lợi ích cho chính bản thân và cho những người nghe. Như vậy phải rất cẩn phòng (cẩn trọng đề phòng) trong lời nói vì lời nói ra thì không lấy lại được. Bạn có biết ở trong phần tu tập Tâm Từ (Metta Bhavanā) cho mình người và cho người có câu: “Nguyện cho tôi” hay “Nguyện cho người tự cẩn phòng để được hằng trọn an vui”. Cẩn phòng ở đây là cẩn phòng Thân, Lời, Ý, cẩn phòng Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, hoặc không cho Thân, Lời, Ý Bất Thiện, không cho Nhãn, Nhĩ, Tỷ Thiệt, Thân, Ý dính mắc phiền não, mới có được sự an vui.
(4) Chánh Nghiệp (Sammākammanta): Hành động chân chánh xuyên qua Thân Hành, Ngữ Hành, và Ý Hành. Ý là Pháp dẫn đầu, có Tâm Ý chân chánh (Chánh Kiến, Chánh Tư Duy) đưa đến Ngữ Chân Chánh và Hành Chân Chánh. Ý Chân Chánh là Ý Thiện Nghiệp, là Ý diệt Tham, Ý diệt Sân, Ý diệt Tà Kiến, Ý không có chấp lầm. Kinh Pháp Cú có các câu # 1 và # 2 như sau:
Ý dẫn đầu các Pháp
Ý làm chủ, Ý tạo
Nếu với Ý ô nhiễm
Nói lên hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như xe, chân vật kéo.
Ý dẫn đầu các Pháp
Ý làm chủ, Ý tạo
Nếu với Ý thanh tịnh
Nói lên hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình.
Trên con đường tu tập, chúng ta vẫn còn bị lẫn lộn, có lúc có Ý Thiện Nghiệp, nhưng lắm khi cũng có Ý Bất Thiện Nghiệp, và hai trạng thái này lẫn lộn, dằn co với nhau từ cái này qua cái kia chỉ trong một Ý nghĩ suy. Thế nhưng vì sao có sự lẫn lộn, dằn co giữa Ý Thiện Nghiệp và Ý Bất Thiện Nghiệp ? Là vì chúng ta còn đem những nghĩ suy Bất Thiện vào, và không đủ sự tu tập để nhìn thấy, xem xét Tâm Ý của chúng ta. Chánh Nghiệp giúp ngăn trừ ba điều bất thiện về Thân. Chánh nghiệp cũng là sự ngăn trừ sát sinh, trộm cắp, tà dâm trong Ngũ giới và Bát Giới. Sát sinh, trộm cắp, tà dâm là căn nguyên, là tập khí, là nguyên nhân, là Tập Đế, đưa đến Khổ (Khổ Đế). Thực hành Chánh Nghiệp để giữ ba giới về Thân
(5) Chánh Mạng (Sammāājīva): Là sự nuôi mạng chân chánh. Có năm điều cho Phật Tử nuôi mạng chân chánh, đó là: (1) Không buôn bán vũ khí; (2) Không buôn bán chất độc; (3) Không buôn bán chất say; (4) Không buôn bán nô lệ; (5) Không buôn sinh bán tử.
Giới Luật của chư Tỳ Khưu thì có 21 Pháp Tà Mạng, nuôi mạng không chân chánh mà một vị xuất gia không được làm, ví dụ như xem tướng, xem bói, nói ướm lời để Phật Tử cúng dường, v.v. Không phải chỉ qua năm nghề để nuôi mạng đó mà được gọi là nuôi mạng chân chánh. Ngày nào chúng ta còn nuôi dưỡng với Tà Ý thì vẫn chưa có Chánh Mạng. Có Chánh Ý, Chánh Tâm, Chánh Hạnh mới nuôi mạng được chân chánh. Như đã nói ở trên, Ý Nghiệp Thiện mới có Ngữ Nghiệp Thiện và Thân Nghiệp Thiện và như vậy mới có nuôi mạng chân chánh. Với Ý lương lẹo, gian manh, không chân thật thì không nuôi mạng chân chánh và không có Chánh Mạng là Tà Mạng.
Ở đây xin được nói thêm trong Trung Bộ Kinh, Bài Kinh Chánh Kiến được Đức Phật dạy có bốn loại bổ phẩm để nuôi mạng, đó là: (1) Đoàn Vật Thực: Là thực phẩm có thể ăn được, là bổ phẩm để nuôi thân mạng (Sắc Thân). Sắc thân được nuôi dưỡng bởi Đoàn Vật Thực thì được gọi là Sắc Vật Thực. Ở đây cũng xin chia sẻ là có bốn nhân sinh Sắc đó là Tâm, Vật Thực, Qúy Tiết (Thời Tiết), và Nghiệp; (2) Xúc Thực: Được ví như là một loại bổ phẩm, nuôi dưỡng cảm xúc, hay cảm giác do bởi tiếp xúc với sáu Trần Cảnh, đó là: Sắc, Thinh, Khí, Vị, Xúc, Pháp, thông qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và tâm ý thức. Người ta không ngừng nghỉ thọ thực loại bổ phẩm Xúc Thực này; (3) Ý Tư Niệm Thực: Là tác ý, được ví như một loại bổ phẩm; (4) Thức Thực: Là tất cả tâm ý thức được ví như một loại bổ phẩm. Đó là bốn loại bổ phẩm để nuôi dưỡng sắc thân và tâm ý thức mà người ta sử dụng mỗi ngày, vì thế nếu như người ta luôn nuôi dưỡng những ý nghĩ với Tham, Sân, và Tà Kiến, thì sẽ đi đến tạo tác Tà Mạng qua Thân, Ngữ, Ý Bất Thiện.
Chánh Mạng (Sammāājīva) là Tâm Ý Mạng Chân Chánh để nuôi dưỡng Thân Mạng chân chánh. Chánh Mạng cũng có nghĩa là sống đúng chánh Pháp. Chánh Mạng là nuôi dưỡng thân mạng hợp theo lẽ Đạo. Chánh Mạng cũng có nghĩa là không sống chạy theo Ngũ Dục Trần, là Sắc, Thinh, Khí, Vị, Xúc. Khi chúng ta hành động để nuôi mạng qua Thân, Lời, Ý thì chúng ta không nghĩ đến hành động nhưng quả báo của hành động không bỏ chúng ta đâu, mà nó rượt đuổi theo chúng ta qua đời này, kiếp khác. Thân hành động chân chánh để nuôi mạng nhưng phải xem xét lại Tâm Ý để nuôi mạng có được chân chánh chưa.
Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng (Sammāājīva) là ba chi phần thuộc Giới Phần trong Bát Chánh Đạo. Người có hành trì giới trong sạch thì có Quả Phước Người, Trời, và Níp Bàn. Các chúng sinh được sinh về Cõi Trời cũng nhờ giữ giới. Các chúng sinh được đầy đủ tài vật cũng nhờ giữ giới. Các chúng sinh được thụ hưởng Níp Bàn cũng nhờ giữ giới. Thực hành Chánh Ngữ trong đời sống hằng ngày hay trong tu tập là ngăn ngừa tứ ác ngữ (vọng ngữ, thô ác ngữ, ly gián ngữ, hồ ngôn loạn ngữ), và luôn luôn phản tỉnh tư duy suy nghĩ trước khi nói, đang khi nói, và sau khi nói. Lời dạy của Đức Phật là: (1) Trước khi nói phải nên phản tỉnh, nếu lời nói ra sẽ làm hại người hay hại chính bản thân thì không nên nói; (2) Đang khi nói phải nên phản tỉnh, nếu lời đang nói làm hại người hay hại chính bản thân thì ngưng không nói nữa; (3) Sau khi nói xong, phải nên phản tỉnh, nếu lời đã nói làm hại người hay hại chính bản thân thì phải nên lập quyết tâm không nói những lời này nữa.
Thực hành Chánh Nghiệp là ngăn trừ ba thân ác nghiệp (sát sinh, trộm cắp, và tà hạnh). Tu tập Chánh Nghiệp là phản tỉnh trước khi tạo tác thân nghiệp, đang khi tạo tác thân thân nghiệp, và sau khi tạo tác thân nghiệp. Thực hành Chánh Mạng là ngăn trừ Tà Mạng và không nuôi mạng qua ba thân ác hành, bốn ác ngữ hành, và cũng không nuôi mạng bằng công việc làm tà mạng cho một Phật Tử, tại gia cư sĩ.
(6) Chánh Tinh Tấn (Sammāvāyāmo): Là sự nhiệt tâm, nổ lực cố gắng trên nền tảng Tứ Chánh Cần, chuyên tâm nổ lực hết sức mình để ngăn ngừa và diệt trừ Pháp Bất Thiện; và chuyên tâm nổ lực không lui sụt trong việc phát triển tăng trưởng Pháp Thiện.
(a) Thế nào là ngăn ngừa và diệt trừ ? Là việc xấu ác, bất thiện nào chưa sinh khởi thì ngăn ngừa không cho sinh khởi, và việc xấu ác, bất thiện nào đã sinh khởi thì phải mau mau diệt trừ. (b) Thế nào là phát triển và tăng trưởng ? Là việc thiện nào đã sinh khởi thì làm cho được tăng trưởng và việc thiện nào chưa sinh khởi thì làm cho phát triển, sinh khởi.
Trên phương diện ngôn từ là như vậy, thế nhưng hành động của chúng ta thì sao ? Chúng ta nuôi dưỡng Tâm Ý Bất Thiện, và rồi tạo tác Thân Lời Bất Thiện, không có ba ngăn trừ phần Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, và Chánh Mạng. Muốn ngăn ngừa và diệt trừ việc xấu ác thì chúng ta phải biết việc xấu ác là những chi. Có Thập Ác Nghiệp, mười việc ác qua Thân, Lời, Ý, đó là: (1) Ba về Thân: Là sát sinh, trộm cướp, tà hạnh; (2) Bốn về Lời: Là ly gián ngữ, thô ác ngữ, vọng ngữ, hồ ngôn loạn ngữ; (3) Ba về Ý: Là ý tham, ý sân, ý tà kiến.
Có Thập Bất Thiện Nghiệp, mười việc xấu, đó là: không xả thí, không trì giới, không Tu Tập, không cung kỉnh, không phụng hành, không thuyết Pháp, không thính Pháp, không hồi hướng, không tùy hỷ, và tà kiến, tức là đi ngược lại với Thập Phúc Hành Tông. Cũng như vậy muốn làm cho tăng trưởng hay phát triển việc thiện thì chúng ta phải biết Thập Thiện Nghiệp qua Thân, Lời, Ý, và mười điều này đối trị Thập Ác Nghiệp, đó là: (1) Ba về Thân: Là không sát sinh, không trộm cướp, không tính dục tà hạnh; (2) Bốn về Lời: Là không có ly gián ngữ, không có thô ác ngữ, không vọng ngữ, không hồ ngôn loạn ngữ; (3) Ba về Ý: Là ý không tham, ý không sân, và ý không tà kiến.
Thập Phúc Hành Tông, đó là: Xả thí, trì giới, Tu Tập, cung kỉnh, phụng hành, thuyết Pháp, thính Pháp, hồi hướng, tùy hỷ, và chân tri chước kiến. Thập Phúc Hành Tông này là đối trị Thập Bất Thiện Nghiệp đã nói ở trên. Đa phần chúng ta chắc cũng đã biết và thực hạnh xả thí, trì giới, cung kỉnh, phụng hành, thính Pháp, thuyết Pháp, tùy hỷ, thế nhưng có thể chưa làm tăng trưởng và phát triển Tu Tập và chân tri chước kiến. Tu Tập là tu tập thiền An Chỉ, thiền Minh Sát Tuệ, để thanh lọc và làm thanh tịnh Tâm Ý, và phát sinh trí tuệ để không có thấy sai chấp lầm, không tà kiến. Và từ việc thấy đúng, biết chân thật sẽ giúp có Chánh Tinh Tấn. Chánh Tinh Tấn cũng là sự nhiệt tâm, nổ lực tinh cần không lui sụt trong việc trau giồi tu tập Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Niệm, và Chánh Định, trong Bát Chánh Đạo. Có như vậy mới ngõ hầu thành tựu Thánh Đạo, Thánh Quả.
(7) Chánh Niệm (Sammāsati): Chánh là chân chánh, chân thật. Niệm là ghi nghớ. Vậy Chánh Niệm là sự ghi nhớ chân chánh, chân thật. Vậy ghi nhớ như thế nào là nghi nhớ chân chánh chân thật ?
Do đâu người ta nói những lời không nên nói, khi nhớ lại thì hối hận, hối tiếc ? Do đâu người ta làm những việc mà không nên làm, khi nhớ lại thì buồn rầu, lo lắng ? Do đâu người ta có những nghĩ suy bất thiện, sai lầm để rồi làm khổ não cho chính bản thân và cho tha nhân. Có phải vì người ta thiếu Chánh Niệm, hoặc thiếu sự ghi nhớ để rồi dẫn đến nói lời không nên nói, tạo tác việc không nên tạo tác, và nghĩ suy những điều không nên suy nghĩ ? Do thiếu sự ghi nhớ, hoặc không có sự ghi nhớ nên con người ta không có sự chuẩn bị, không biết phòng hộ Thân, Lời, Ý hành, để đi đến làm việc bất thiện. Nếu như luôn có sự ghi nhớ chân chánh, đúng đắn như thật thì con người ta biết được một Pháp đang hiện bày là Pháp Thiện hay Pháp Bất Thiện. Ví dụ một người thường xuyên sống trong sự ghi nhớ, quay về xem xét nội tâm, thì người ấy có khả năng biết được họ đang suy nghĩ và có Ý Bất Thiện, và Như vậy người ấy có khả năng ngăn chặn Bất Thiện Ý không để tạo tác hành động Bất Thiện thông qua lời nói hoặc thân hành. Cũng như vậy nếu thường luôn có sự ghi nhớ chân chánh, người ấy sẽ có khả năng làm tăng trưởng và phát triển Thiện Pháp. Như vậy Chánh Niệm hổ trợ cho Chánh Tinh Tấn để làm thành tựu Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng.
Có sự ghi nhớ thì Tâm được an trú, Tâm an trú thì không có sợ hãi khi có những sự việc xảy ra bất ngờ. Tâm an trú thì sinh định tĩnh, và như vậy Chánh Niệm cũng là nền tảng để sinh Định Tâm. Nói thì là như vậy, nhưng đa phần con người ta không có sự ghi nhớ rõ ràng chân chánh, bởi vậy không có sự phòng hộ Thân, Lời, Ý, nên nói, làm, và suy nghĩ Bất Thiện, hoặc không khéo léo trong việc ứng xử với những sự việc xảy ra. Vậy Chánh Niệm là sự ghi nhớ đúng đắn chân chánh. Ghi nhớ chân chánh đúng đắn là ghi nhớ điều Thiện, ghi nhớ tu tập trau giồi làm tăng trưởng và phát triển Thiện Pháp, ghi nhớ để ngăn ngừa và diệt trừ Bất Thiện Nghiệp, Thân, Lời, Ý. Luôn có sự ghi nhớ đến tâm ý thức để mà tu tập thanh lọc Tâm Ý cho được thanh tịnh, làm nền tảng cho Chánh Định.
Ghi Nhớ: Cũng nên ghi nhận rằng Chánh Niệm là sự ghi nhớ chân thật, đúng đắn là sự ghi nhớ về Thực Tính và Thực Tướng của các Pháp đang hiện bày, chứ không phải ghi nhớ theo sự chủ quan, hay tư kiến của một người.
(8) Chánh Định (Sammāsamādhi): Một người có Tâm định tĩnh thì sẽ được sáng suốt trong mọi việc ứng xử trong đời sống hàng ngày cũng như trong con đường tu tập trau giồi Giới và Tuệ. Như đã trình bày ở trên Chánh Niệm là nền tảng cho Chánh Định vì nội Tâm an trú. Một người muốn trau giồi Định Tâm thì cần có đời sống tĩnh lặng, tu tập Thiền An Chỉ và Thiền Minh Sát Tuệ. Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định là ba chi của Định Đạo thuộc Bát Chánh Đạo.
Vì sao Tuệ Đạo là Chánh Kiến và Chánh Tư Duy được nêu lên trước ?
Tuệ Đạo là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy làm nền tảng cho mọi sự thành tựu về Giới và Định. Với Tuệ làm nền tảng, Giới được trong sạch thanh tịnh và Định được kiên cố, vững chắc, và không rơi vào Tà Định, như vậy hổ tương cho Tuệ và Giới. Giới không ở trên nền tảng của Tuệ thì dễ rơi vào Giới Cấm Thủ, Tà Giới. Ví dụ như một người hành trì Giới luật với tâm nguyện hướng đến sự được khen tặng, sự so sánh được hơn người, hay hướng đến quả phước Nhân Thiên. Với Định không trên nền tảng của Tuệ thì dễ rơi vào Tà Định, tức là muốn có Định để sinh thần thông, biến hóa, và so tài cao thấp, và hấp dẫn lôi kéo thiên hạ, hay để làm thỏa mãn những ước muốn mong cầu ngoài sự giải thoát, và Níp Bàn. Vào thời Đức Phật còn tại thế, Ngài đã cấm Thánh Nhân đệ tử của Ngài không được vận dụng thần thông, sau khi biết được một vị A La Hán đã dùng Thần Thông bay lên và lấy được chiếc bình bát treo trên ngọn tre qua lời thách thức của vị Bà La Môn. Một người thiếu tu tập, thiếu sự định tâm, định tĩnh thì cũng khó thành tựu được Giới thanh tịnh, và cũng như vậy một người mà Giới không trong sạch, không thanh tịnh thì cũng khó mà có định tâm, hay Tâm an trú. Ví dụ như một người phạm giới sát sinh thì Tâm Thức bồn chồn, không yên, lo lắng, trạo hối, và như vậy thì khó tu tập Định Tâm.
