Patthana 123
SỰ TRỌNG YẾU CỦA PHÁT THÚ (PAṬṬHĀNA)
Cả bảy Bộ Kinh của Tạng Vô Tỷ Pháp này, Đức Thế Tôn đã lập ý thẩm sát liên tục suốt bảy ngày. Tiếp đến trong tuần lễ thứ tư, sau khi đã giác ngộ Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác tại cội cây Đại Bồ Đề (Mahābodhi), địa danh mà Ngài ngồi để thẩm sát có tên gọi là “Thủy Tinh Cung Bảo Tháp” (Ratanaghara Cetiya) [đôi khi còn gọi là “Thất Thủy Tinh Cung Bảo Tháp” (Satta Ratanaghara Cetiya)]. Tất cả ở tại đây, là để tưởng nhớ đến địa danh mà Ngài đã thẩm sát bảy Bộ Kinh của Tạng Vô Tỷ Pháp này. (Chú Giải Tạng Vô Tỷ Pháp điều 1 / 82; Chú Giải Túc Sinh Truyện, Tiểu Bộ Kinh điều 1 / 114).
Nhà Chú Giải soạn tác Bộ Chú Giải Aṭṭhasālinī đề cập đến sự trọng yếu của Bộ Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) rằng tính kể từ ngày giác ngộ đến sát na Đức Thế Tôn thẩm sát hiệu duyệt lại sáu Bộ Kinh đầu của Tạng Vô Tỷ Pháp thì không có hào quang sáu màu phún tủa ra khắp cả kim thân của Ngài. Khi vừa thẩm sát đến Bộ Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) hoặc Ngài gọi là “Đại Kinh Điển”(Mahā Pakaraṇa) thì hào quang sáu màu phún tủa ra, có lẽ là vì trong Bộ Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) có phần rộng lớn quảng khoát tựa như vực sâu ở trong đại dương; như Ngài đã gọi là “Phần Đại Dương” (Naya Sāgara) là nơi mà Toàn Giác Trí (Sabaññutañāṇa) của Đức Thế Tôn có được cơ hội hiển thị năng lực một cách mãn túc. Cũng như thế “Nước Đại Dương” (Jala Sāgara) là vực sâu ở trong đại dương sâu thẳm đến 84,000 do tuần, là nơi mà kình ngư tên gọi Timira và Pingala có được cơ hội hiển thị năng lực bơi lội thỏa thích một cách mãn túc. Việc hiển thị năng lực của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa) ở đây, chính là tác nhân làm cho hào quang sáu màu phún tủa ra khắp cả kim thân. (Chú Giải Tạng Vô Tỷ Pháp điều 1/12 - 15).
Với duyên cớ như vậy mới được xem là Bộ Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) phát sinh từ mãnh lực của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa) và là bản chất (Visaya) một cách đặc thù của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa), do đó mới có ý nghĩa và nội dung cực thậm thâm hơn cả các Bộ Kinh nào khác ở trong Tam Tạng. Khốn khổ cho người nào sẽ có khả năng trắc lượng được hết toàn bộ. Nhà Chú Giải cổ xưa mới gọi Bộ Kinh này là “Vô Gián Đẳng Vô Gián Đại Kinh” (Anantanayasamanta Paṭṭhāna Mahāpakaraṇa), một Bộ Kinh rộng lớn có rất nhiều phân loại, kỳ diệu và vô cùng trọng yếu. (Bộ Đại Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) rộng lớn, quảng khoát với hàng loạt vô lượng ý nghĩa vây quanh – Chú Giải Tạng Vô Tỷ Pháp điều 3 / 573).
Ý NGHĨA CỦA PHÁT THÚ (PAṬṬHĀNA)
Từ ngữ Phát Thú (Paṭṭhāna) được dịch là “việc khởi phát, việc khai sáng, khởi điểm, khởi nguyên, nguyên nhân.” Thế nhưng trong chỗ này, tên gọi của Bộ Kinh có ba ý nghĩa, đó là:
- Chỗ gọi là Phát Thú (Paṭṭhāna) vì có nội dung là: Trình bày tất cả các thể loại Duyên sai khác nhau (Kenaṭṭhena paṭṭhānanti nānappakāra paccayaṭṭhena). Tức là Bộ Kinh mà Đức Thế Tôn lập ý đem các thể loại Duyên sai khác nhau đến tập hợp lại để trình bày một cách quảng nghĩa.
- Chỗ gọi là Phát Thú (Paṭṭhāna) vì có nội dung là: Phân tích Pháp Thực Tính (Sabhāvadhamma) với các thể loại Duyên sai khác nhau (Kenaṭṭhena paṭṭhānanti vibhajanaṭṭhena). Tức là Bộ Kinh lập ý dẫn các Pháp Thực Tính sai khác nhau chẳng hạn như Pháp Thiện (Kusaladhamma), Pháp Bất Thiện (Akusaladhamma), Pháp Vô Ký (Abyākatadhamma) tập hợp lại gọi là Tam Đề Thiện (Kusalatika) đem đến phân tích theo thể loại của Duyên.
- Chỗ gọi là Phát Thú (Paṭṭhāna) vì có nội dung là: Nơi sinh hoạt của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa) (Kenaṭṭhena paṭṭhānanti paṭṭhitaṭṭhena). Tức là Giáo Truyền Phật Pháp (Dhammadesanā) khởi sinh với mãnh lực của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa) và là bản chất (Visaya) một cách đặc thù của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa). (Chú Giải Tạng Vô Tỷ Pháp điều 3 / 393).
Tóm lại, Phát Thú (Paṭṭhāna) là Bộ Kinh mà Đức Thế Tôn lập ý đem Pháp Thực Tính (Sabhāvadhamma) ra làm thành điểm khởi phát, tức là số lượng 24 thể loại Duyên (Paccaya) lấy đem đi giải thích cho thẩm sát một cách tường tận hoặc sự thục luyện và chức năng của từng mỗi thể loại; rồi lập ý đem Pháp Thực Tính (Sabhāvadhamma) ở phần Mẫu Đề (Mātikā) với số lượng 122 nhóm được trích từ Bộ Kinh Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) của Tạng Vô Tỷ Pháp đem ra phân tích với những thể loại Duyên này, nhằm để cho thẩm thị được mối tương quan của đạo lý Nhân Quả hỗ tương lẫn nhau.
Phát Thú (Paṭṭhāna) Với Liên Quan Tương Sinh (Paṭicca samuppāda)
Đức Thế Tôn đã Giáo Truyền Phật Pháp (Dhammadesanā) nhằm để cho thẩm thị được mối tương quan của đạo lý Nhân Quả hỗ tương lẫn nhau ấy, khi đem phân tích ra thì có được hai phần, đó là:
- Phần Liên Quan Tương Sinh (Paṭiccasamuppādanaya), và
- Phần Phát Thú (Paṭṭhānanaya)
Giáo Truyền Phật Pháp ở Phần Liên Quan Tương Sinh lập ý trình bày cho thẩm thị được rằng khi đã có Tác Nhân này rồi thì sẽ có Hệ Quả chi đi tiếp nối theo hết cả một dòng sinh rồi diệt. Ngoài việc ấy ra thì vẫn còn nhấn mạnh rằng Pháp Thực Tính ở phần tác nhân quay trở lại làm được Pháp Thực Tính ở phần Hệ Quả, và Pháp Thực Tính ở phần Hệ Quả cũng quay trở lại làm được Pháp Thực Tính ở phần Tác Nhân tương tự như nhau.
Ví dụ như: “Vô Minh làm duyên cho Hành khởi sinh, Hành làm duyên cho Thức khởi sinh, …”
Trong cách thức đảo ngược lại thì “Thức cũng làm duyên cho Hành khởi sinh, Hành cũng làm duyên cho Vô Minh khởi sinh, …”
Còn trong Phần Phát Thú (Paṭṭhāna) thì lập ý giải thích mãnh lực hoặc chức năng đặc thù của từng mỗi thể loại Duyên một cách quảng nghĩa. (Tổng Hợp Nội Dung Vô Tỷ Pháp, Chương thứ tám).
VIỆC HOẠCH PHÂN PHÁT THÚ (PAṬṬHĀNA)
Bộ Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) chia ra làm sáu Phần (Bhāga), mỗi Phần một quyển sách; tức là kể từ quyển thứ 40 đến quyển thứ 45 là phần cuối cùng của Tam Tạng. Cả sáu Phần với những Phát Thú (Paṭṭhāna) sai khác nhau gom lại thành 24 Phát Thú (Paṭṭhāna) như sau:
- Phần Thứ Nhứt (Quyển Thứ 40) Là Với Lời Khai Đoan (Ārambhakathā):
Tức là Duyên Xiển Thuật (Paccayuddesa) với việc trình bày 24 thể loại Duyên một cách giản yếu, và Duyên Xiển Minh (Paccayaniddesa) với việc phân tích 24 thể loại Duyên một cách quảng nghĩa vừa thích hợp, làm thành điện định cơ sở trong phần tiên khởi và rồi đi vào đến nội dung cơ bản. Phần tiên khởi ấy là Pháp Thuận Tam Đề Phát Thú (Dhammānulomatika paṭṭhāna).
- Phần Thứ Hai (Quyển Thứ 41) Là Với Đoạn Cuối Pháp Thuận Tam Đề Phát Thú (Dhammānulomatikapaṭṭhāna): Pháp Thuận Tam Đề Phát Thú này là Phát Thú thứ nhất. Đức Thế Tôn lập ý giải thích sự việc làm thành Duyên với nhau của nhóm Pháp có ba Mẫu Đề được gọi là Mẫu Đề Tam (Tikamātikā), số lượng 22 Tam Đề (Tika) có Tam Đề Thiện (Kusalatika) là Tam Đề đầu tiên mà sinh hoạt thể theo bảy Giai Đoạn (Vāra) sai khác nhau có Giai Đoạn Liên Quan (Paṭiccavāra) là Giai Đoạn đầu tiên, tùng sự theo mãnh lực của từng mỗi thể loại Duyên của cả 24 Duyên có Nhân Duyên (Hetupaccaya) là Duyên đầu tiên, chẳng hạn như: Kusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjati Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện khởi sinh do bởi Nhân Duyên.”
- 4. Phần Thứ Ba – Bốn (Quyển Thứ 42 – 43) Là Với Pháp Thuận Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomadukapaṭṭhāna): Là Phát Thú thứ hai. Đức Thế Tôn lập ý giải thích sự việc làm thành Duyên với nhau của nhóm Pháp có hai Mẫu Đề được gọi là Mẫu Đề Nhị (Dukamātikā), số lượng 100 Nhị Đề (Duka) có Nhị Đề Nhân (Hetuduka) là Nhị Đề đầu tiên bởi do sinh hoạt thể theo Giai Đoạn (Vāra) và Duyên (Paccaya), tương tự Pháp Thuận Tam Đề Phát Thú.
- Phần Thứ Năm (Quyển Thứ 44) Là Với Phát Thú Thứ 3 – 6: Khởi sinh từ việc dẫn dắt của Phát Thú thứ nhất với thứ hai, đem trình bày kết hợp lại với nhau ở dạng thức xen kẽ và tự trình bày việc kết hợp, tức là:
(3) Pháp Thuận Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammānulomadukatikapaṭṭhāna),
(4) Pháp Thuận Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomatikadukapaṭṭhāna),
(5) Pháp Thuận Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammānulomadukadukapaṭṭhāna),
(6) Pháp Thuận Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomadukadukapaṭṭhāna).
[Cả sáu Phát Thú này gọi là phía Phần Thuận Tùng (Anulomanaya), tức là phía Phần không có việc phủ định (Paṭisedha)].
- Phần Thứ Sáu (Quyển Thứ 45) Là Với Phát Thú Thứ 7 – 24: Đó là:
(7) Pháp Nghịch Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyatikapaṭṭhāna),
(8) Pháp Nghịch Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyadukapaṭṭhāna),
(9) Pháp Nghịch Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyadukatikapaṭṭhāna),
(10) Pháp Nghịch Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyatikadukapaṭṭhāna),
(11) Pháp Nghịch Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Dhamma paccanīyatikatikapaṭṭhāna),
(12) Pháp Nghịch Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyadukadukapaṭṭhāna).
Cả sáu Phát Thú này gọi là bên Phần Đối Nghịch (Paccanīyanaya), tức là phía Phần có Việc Phủ Địhn (Paṭisedha) ở cả Câu Trạng Từ (Kammapada – Phụ Từ) và Câu Chủ Từ (Kattupada), chẳng hạn như: NaKusalaṃ dhammaṃ paṭicca nakusalo dhammo uppajjati Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Phi Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Phi Thiện khởi sinh do bởi Nhân Duyên.”
(13) Pháp Thuận Nghịch Tam Đề Phát Thú (Dhammānuloma paccanīyatikapaṭṭhāna),
(14) Pháp Thuận Nghịch Nhị Đề Phát Thú (Dhammānuloma paccanīyadukapaṭṭhāna),
(15) Pháp Thuận Nghịch Nhị Đề Tam Đế Phát Thú (Dhammānulomapaccanīya dukatikapaṭṭhāna),
(16) Pháp Thuận Nghịch Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomapaccanīyatika dukapaṭṭhāna),
(17) Pháp Thuận Nghịch Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammānulomapaccanīyatika tikapaṭṭhāna),
(18) Pháp Thuận Nghịch Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomapaccanīyaduka dukapaṭṭhāna).
Cả sáu Phát Thú này khởi sinh từ bên Phần Đối Nghịch đến tương phối với bên Phần Thuận Tùng.
(19) Pháp Nghịch Thuận Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānulomatikapaṭṭhāna),
(20) Pháp Nghịch Thuận Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānulomadukapaṭṭhāna),
(21) Pháp Nghịch Thuận Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānuloma dukatikapaṭṭhāna),
(22) Pháp Nghịch Thuận Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānuloma tikadukapaṭṭhāna),
(23) Pháp Nghịch Thuận Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānuloma tikatikapaṭṭhāna),
(24) Pháp Nghịch Thuận Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānuloma dukadukapaṭṭhāna).
Cả sáu Phát Thú này khởi sinh từ phía Phần Thuận Tùng đến tương phối với phía Phần Đối Nghịch.
KẾT CẤU CỦA PHÁT THÚ (PAṬṬHĀNA)
Khi nhìn vào đồ họa của việc kết hợp cả sáu Phần Phát Thú như đã đề cập ở phía trên thì sẽ thẩm thị được kết cấu của Phát Thú (Paṭṭhāna) như sau:
- Lời Khai Đoan (Ārambhakathā)
Lời Khai Đoan tức là phần được gọi là Giai Đoạn Toát Yếu Mẫu Đề (Mātikānikkhepavāra) hoặc Giai Đoạn Phân Tích Duyên (Paccayavibhaṅgavāra); tức là Phần lập ý trình bày Duyên một cách giản yếu và được phân tích ra làm hai Phần, đó là:
- Duyên Xiển Thuật (Paccayuddesa) tức là Phần lập ý trình bày Duyên bằng cách nêu tên, chỉ đích danh của từng mỗi thể loại Duyên, đó là:
- Nhân Duyên (Hetupaccaya),
- Cảnh Duyên (Ārammaṇapaccaya),
- Trưởng Duyên (Adhipatipaccaya),
- Vô Gián Duyên (Anantarapaccaya),
- Đẳng Vô Gián Duyên (Samanantarapaccaya),
- Câu Sinh Duyên (Sahajātapaccaya),
- Hỗ Tương Duyên (Aññamaññapaccaya),
- Y Chỉ Duyên (Nissayapaccaya),
- Cận Y Duyên (Upanissāyapaccaya),
- Tiền Sinh Duyên (Purejātapaccaya),
- Hậu Sinh Duyên (Pacchājātapaccaya),
- Trùng Dụng Duyên (Āsevanapaccaya),
- Nghiệp Lực Duyên (Kammapaccaya),
- Dị Thục Quả Duyên (Vipākapaccaya),
- Vật Thực Duyên (Āhārapaccaya),
- Quyền Lực Duyên (Indriyapaccaya),
- Thiền Na Duyên (Jhānapaccaya),
- Đồ Đạo Duyên (Maggapaccaya),
- Tương Ưng Duyên (Sampayuttapaccaya),
- Bất Tương Ưng Duyên (Vippayuttapaccaya),
- Hiện Hữu Duyên (Atthipaccaya),
- Vô Hữu Duyên (Natthipaccaya),
- Ly Khứ Duyên (Vigatapaccaya),
- Bất Ly Duyên (Avigatapaccaya).
- Duyên Xiển Minh (Paccayaniddesa): tức là Phần lập ý phân tích Năng Duyên (Paccaya) (là Tác Nhân – Hetu), Sở Duyên (Paccayuppanna) (là Hệ Quả - Phala) và Thục Duyên (Paccayasattati) (mãnh lực hoặc sự thục luyện của từng mỗi thể loại Duyên vào giúp đỡ ủng hộ và hỗ trợ cho các Pháp Thực Tính khác có khả năng được duy trì hoặc có khả năng được khởi sinh), chẳng hạn như:
“Hetupaccayoti: hetū hetusampayuttakānaṃ dhammānaṃ taṃ samuṭṭhānānañca rūpānaṃ Hetupaccayena paccayo” -
Nhân Duyên tức là Nhân làm duyên đối với Pháp Thực Tính mà tương ưng với Nhân ấy và Sắc có Pháp Thực Tính mà tương ưng với Nhân ấy làm xuất sinh xứ do bởi Nhân Duyên.
“Ārammaṇapaccayoti rūpāyatanaṃ cakkhuviññāṇadhātu paccayā taṃsampayutta kānañca dhammānaṃ Ārammaṇapaccayena paccayo”. v.v.
Cảnh Duyên tức là Sắc Xứ làm duyên đối với Nhãn Thức Giới và Pháp Thực Tính mà tương ưng với Nhãn Thức Giới ấy do bởi Cảnh Duyên. v.v.
- Tố Thành Bộ Phận Làm Thành Nội Dung Cơ Bản Của Phát Thú (Paṭṭhāna)
Tố thành bộ phận làm thành nội dung cơ bản thực chất của từng mỗi Phát Thú tức là 22 nhóm Mẫu Đề Tam (Tikamātikā) và 100 nhóm Mẫu Đề Nhị (Dukamātikā) của Bộ Kinh Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī), đặc biệt ở phần Mẫu Đề Vô Tỷ Pháp (Abhidhammamātikā).
Mẫu Đề Tam (Tikamātikā) là nhóm Pháp có ba Mẫu Đề, chẳng hạn như Tam Đề Thiện (Kusalatika) (là với ba nhóm của Pháp Thiện, v.v.) tức là Pháp Thiện (Kusaladhamma), Pháp Bất Thiện (Akusaladhamma) và Pháp Vô Ký (Abyākatadhamma). Tam Đề Thọ (Vedanā tika) (là với ba nhóm của Thọ) tức là Lạc Thọ (Sukhavedanā), Khổ Thọ (Dukkhavedanā) và Phi Khổ Phi Lạc Thọ (Adukkhamasukhavedanā).
Còn Mẫu Đề Nhị (Dukamātikā) là nhóm Pháp có hai Mẫu Đề, chẳng hạn như Nhị Đề Nhân (Hetuduka) (hai nhóm của Nhân) tức là Pháp Nhân (Hetudhamma – Thực Tính Pháp mà làm thành Nhân) và Pháp Phi Nhân (NaHetudhamma - Thực Tính Pháp mà chẳng làm thành Nhân). Nhị Đề Hữu Nhân (Sahetukaduka) (nhóm hai Pháp của Pháp Hữu Nhân) tức là Pháp Hữu Nhân (Sahetukadhamma – Thực Tính Pháp mà có Nhân) và Pháp Vô Nhân (Ahetukadhamma – Thực Tính Pháp mà không có Nhân).
Nhóm Pháp Mẫu Đề như đã đề cập dùng làm cơ chuẩn gọi tên của sáu nhóm Phát Thú như sau
- Lập ý trình bày Phát Thú bằng cách nắm lấy Mẫu Đề Tam làm nền tảng thì gọi là Tam Đề Phát Thú (Tikapaṭṭhāna) chẳng hạn như: Siyā kusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjeyya Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện mới khởi sinh do bởi Nhân Duyên cũng được không ?”
- Lập ý trình bày Phát Thú bằng cách nắm lấy Mẫu Đề Nhị làm nền tảng gọi là Nhị Đề Phát Thú (Dukapaṭṭhāna) chẳng hạn như: Siyā hetuṃ dhammaṃ paṭicca hetu dhammo uppajjeyya Hetu paccayā: Pháp Thực Tính làm thành Nhân nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính mà làm thành Nhân mới khởi sinh do bởi Nhân Duyên cũng được không ?
- Lập ý trình bày Phát Thú bằng cách đem Mẫu Đề Nhị đến kết hợp vào trong Mẫu Đề Tam thì gọi là Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dukatikapaṭṭhāna) chẳng hạn như: Siyā hetuṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjeyya Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính mà làm thành Nhân mới khởi sinh do bởi Nhân Duyên cũng được không ?
- Lập ý trình bày Phát Thú bằng cách đem Mẫu Đề Tam đến kết hợp vào trong Mẫu Đề Nhị thì gọi là Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Tikadukapaṭṭhāna) chẳng hạn như: Siyā kusalaṃ dhammaṃ paṭicca hetu dhammo uppejjeyya Hetupaccayā: Pháp Thực Tính làm thành Nhân nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện mới khởi sinh do bởi Nhân Duyên cũng được không ?
- Lập ý trình bày Phát Thú bằng cách đem Mẫu Đề Tam đến kết hợp vào trong Mẫu Đề Tam thì gọi là Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Tikatikapaṭṭhāna) chẳng hạn như: Siyā kusalaṃ sukhāya vedanāya sampayuttaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo sukhāya vedanāya sampayutto dhammo uppejjeyya Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Thiện tương ưng với Lạc Thọ nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện tương ưng với Lạc Thọ mới khởi sinh do bởi Nhân Duyên cũng được không ?
- Lập ý trình bày Phát Thú bằng cách đem Mẫu Đề Nhị đến kết hợp vào trong Mẫu Đề Nhị thì gọi là Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dukadukapaṭṭhāna) chẳng hạn như: Siyā hetuṃ sahetukaṃ dhammaṃ paṭicca hetu sahetuko dhammo uppejjeyya Hetu paccayā: Pháp Thực Tính Hữu Nhân mà có Nhân nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Hữu Nhân mà có Nhân mới khởi sinh do bởi Nhân Duyên cũng được không ?
- Phương Thức Của Phát Thú (Paṭṭhāna)
Phương thức quy định của từng mỗi Phát Thú phối hợp với (1) Phần, (4) Phần, (2) Giai Đoạn, (7) Giai Đoạn, (3) Giai Đoạn của Thục Duyên (Paccayasattati), (4) Giai Đoạn.
Bốn Phần (Naya) Định Vị Của 24 Phát Thú (Paṭṭhāna)
Đức Thế Tôn lập ý phân tích sáu nhóm Phát Thú ở phía trên với tuần tự bốn Phần mới có được bốn Phần 24 Phát Thú, đó là:
- Phần Pháp Thuận Tùng (Dhammānulomanaya): Lập ý trình bày nhóm Pháp Mẫu Đề theo phương thức Phần Thuận Tùng (Anuloma), tức là có sự khẳng định (Nanipāta), không có việc phủ định (Paṭisedha), chẳng hạn như: Kusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjati Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện khởi sinh do bởi Nhân Duyên.
- Phần Pháp Đối Nghịch (Dhammapaccanīyanaya): Lập ý trình bày nhóm Pháp Mẫu Đề theo phương thức Phần Đối Nghịch (Paccanīya) hoặc Phần Đối Lập (Paccanīka), tức là có Việc Phủ Định (Paṭisedha), không có sự khẳng định (Nanipāta); ở cả Câu Chủ Vị gọi là Câu Chủ Từ (Kattupada) và Câu bổ nghĩa gọi là Câu Trạng Từ (Kammapada – Phụ Từ) trong Quy Tắc Ngữ Pháp, chẳng hạn như: NaKusalaṃ dhammaṃ paṭicca NaKusalo dhammo uppajjati Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Phi Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Phi Thiện khởi sinh do bởi Nhân Duyên.
- Phần Pháp Thuận Nghịch (Dhammānulomapaccanīyanaya): Lập ý trình bày nhóm Pháp Mẫu Đề kết hợp lại với nhau giữa Phần Thuận Tùng (Anuloma) với Phần Đối Nghịch (Paccanīya); theo Câu Trạng Từ (Kammapada – Phụ Từ) là Phần Thuận Tùng (Anuloma) và Câu Chủ Từ (Kattupada) là Phần Đối Nghịch (Paccanīya), mới có Việc Phủ Định (Paṭisedha) đặc biệt ở Câu Chủ Từ (Kattupada), chẳng hạn như: Kusalaṃ dhammaṃ paṭicca NaKusalo dhammo uppajjati Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Phi Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện khởi sinh do bởi Nhân Duyên.”
- Phần Pháp Nghịch Thuận (Dhammapaccanīyānulomanaya): Lập ý trình bày nhóm Pháp Mẫu Đề kết hợp lại với nhau giữa Phần Đối Nghịch (Paccanīya) với Phần Thuận Tùng (Anuloma); theo Câu Chủ Từ (Kattupada) là Phần Thuận Tùng (Anuloma) và Câu Trạng Từ (Kammapada – Phụ Từ) là Phần Đối Nghịch (Paccanīya), mới có Việc Phủ Định (Paṭisedha) ở Câu Trạng Từ (Kammapada – Phụ Từ), chẳng hạn như: NaKusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjati Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Phi Thiện khởi sinh do bởi Nhân Duyên.
Lập ý đem cả bốn Phần này đến phân tích cả sáu Phát Thú theo tuần tự từng mỗi nhóm bốn Phần thì có được như sau:
+ Bốn Phần Tam Đề Phát Thú (Tikapaṭṭhāna) thành bốn nhóm Tam Đề Phát Thú (Tikapaṭṭhāna), đó là:
- Pháp Thuận Tam Đề Phát Thú (Dhammānulomatikapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyatika paṭṭhāna),
- Pháp Thuận Nghịch Tam Đề Phát Thú (Dhammānuloma paccanīyatikapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Thuận Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānu lomatikapaṭṭhāna).
+ Bốn Phần Nhị Đề Phát Thú (Dukapaṭṭhāna) thành bốn nhóm Nhị Đề Phát Thú (Dukapaṭṭhāna), đó là:
- Pháp Thuận Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomadukapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyaduka paṭṭhāna),
- Pháp Thuận Nghịch Nhị Đề Phát Thú (Dhammānuloma paccanīyadukapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Thuận Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānu lomadukapaṭṭhāna).
+ Bốn Phần Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dukatikapaṭṭhāna) thành bốn nhóm Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dukatikapaṭṭhāna), đó là:
- Pháp Thuận Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammānuloma dukatikapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīya dukatikapaṭṭhāna),
- Pháp Thuận Nghịch Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammānulomapaccanīyaduka tikapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Thuận Nhị Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānulomaduka tikapaṭṭhāna).
+ Bốn Phần Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Tikadukapaṭṭhāna) thành bốn nhóm Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Tikadukapaṭṭhāna), đó là:
- Pháp Thuận Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomatikadukapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyatikadukapaṭṭhāna),
- Pháp Thuận Nghịch Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomapaccanīyatika dukapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Thuận Tam Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānulomatika dukapaṭṭhāna).
+ Bốn Phần Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Tikatikapaṭṭhāna) thành bốn nhóm Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Tikatikapaṭṭhāna), đó là:
- Pháp Thuận Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammānulomatikatikapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyatikatikapaṭṭhāna),
- Pháp Thuận Nghịch Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammānulomapaccanīyatika tikapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Thuận Tam Đề Tam Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānulomatika tikapaṭṭhāna).
+ Bốn Phần Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dukadukapaṭṭhāna) thành bốn nhóm Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dukadukapaṭṭhāna), đó là:
- Pháp Thuận Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomadukadukapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyadukadukapaṭṭhāna),
- Pháp Thuận Nghịch Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammānulomapaccanīyaduka dukapaṭṭhāna),
- Pháp Nghịch Thuận Nhị Đề Nhị Đề Phát Thú (Dhammapaccanīyānulomaduka dukapaṭṭhāna).
Bảy Giai Đoạn (Vāra), Đó Là:
- Giai Đoạn Liên Quan (Paṭiccavāra): Là giai đoạn lập ý rút lấy Pháp Thực Tính hữu quan với Nhân Quả lên trình bày một cách thích dụng. Từ ngữ “Paṭicca” là “Liên Quan” (nương nhờ) chẳng hạn như: Kusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjati Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) vào Pháp Thực Tính Thiện khởi sinh do bởi Nhân Duyên.
- Giai Đoạn Câu Sinh (Sahajātavāra): Là giai đoạn lập ý rút lấy Pháp Thực Tính hữu quan với Nhân Quả lên trình bày một cách thích dụng. Từ ngữ “Sahajāta” là “Câu Sinh” (đồng cùng sinh với nhau) chẳng hạn như: Kusalaṃ dhammaṃ sahajāto kusalo dhammo uppajjati Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Thiện câu sinh với Pháp Thực Tính Thiện khởi sinh lên do bởi Nhân Duyên.
- Giai Đoạn Duyên Sinh (Paccayavāra): Là giai đoạn lập ý rút lấy Pháp Thực Tính hữu quan với Nhân Quả lên trình bày một cách thích dụng. Từ ngữ “Paccaya” là “Duyên Sinh” chẳng hạn như: Kusalaṃ dhammaṃ paccayā kusalo dhammo uppajjati Hetu paccayā: Pháp Thực Tính Thiện làm Pháp Thực Tính Thiện cho thành Duyên Sinh khởi sinh do bởi Nhân Duyên.
- Giai Đoạn Y Chỉ (Nissayavāra): Là giai đoạn lập ý rút lấy Pháp Thực Tính hữu quan với Nhân Quả lên trình bày một cách thích dụng. Từ ngữ “Nissaya” là “Y Chỉ” (nương tựa) chẳng hạn như: Kusalaṃ dhammaṃ nissāya kusalo dhammo uppajjati Hetu paccayā: Pháp Thực Tính Thiện y chỉ (nương tựa) vào Pháp Thực Tính Thiện khởi sinh lên do bởi Nhân Duyên.
- Giai Đoạn Hỗn Tạp (Saṃsaṭṭhavāra): Là giai đoạn lập ý rút lấy Pháp Thực Tính hữu quan với Nhân Quả lên trình bày một cách thích dụng. Từ ngữ “Saṃsaṭṭha” là “Hỗn Tạp” chẳng hạn như: Kusalaṃ dhammaṃ saṃsaṭṭho kusalo dhammo uppajjati Hetu paccayā: Pháp Thực Tính Thiện hỗn tạp với Pháp Thực Tính Thiện khởi sinh lên do bởi Nhân Duyên.
- Giai Đoạn Tương Ưng (Sampayuttavāra): Là giai đoạn lập ý rút lấy Pháp Thực Tính hữu quan với Nhân Quả lên trình bày một cách thích dụng. Từ ngữ “Sampayutta” là “Tương Ưng” chẳng hạn như: Kusalaṃ dhammaṃ sampayutto kusalo dhammo uppajjati Hetupaccayā: Pháp Thực Tính Thiện tương ưng với Pháp Thực Tính Thiện khởi sinh lên do bởi Nhân Duyên.
- Giai Đoạn Vấn Đề (Pañhāvāra): Là giai đoạn lập ý rút lấy 49 điều thẩm vấn trong Giai Đoạn Vấn Đáp (Pucchāvāra) lên trình bày. Từ ngữ “Pañhā” là “Vấn Đề” chẳng hạn như: Kusalo dhammo kusalassa dhammassa Hetupaccayena paccayo: Pháp Thực Tính Thiện làm duyên đối với Pháp Thực Tính Thiện do bởi Nhân Duyên.
Trong cả sáu Giai Đoạn (Cha Vāra) kể từ 1 – 6 thì có hai Câu trình bày Chi Pháp, đó là:
- Kammapada – Câu Phụ Từ / Câu Trạng Từ: (Câu làm thành Tân Ngữ (Object) hoặc Tân Cách (Objective case) trong Quy Tắc Ngữ Pháp, tức là “Kusalaṃ dhammaṃ” trong kiểu mẫu ở phía trên) trình bày đến Pháp Năng Duyên (Paccayadhamma) [Chi Pháp làm thành Tác Duyên (Paccaya) hoặc Tác Nhân (Hetu)].
- Kattupada – Câu Chủ Từ: Câu làm thành Chủ Vị hoặc Câu Chủ Từ (Kattukāraka) trong Quy Tắc Ngữ Pháp, tức là “Kusalo dhammo” trong kiểu mẫu ở phía trên) trình bày đến Pháp Sở Duyên (Paccayuppannadhamma) [Chi Pháp làm thành sản địa của Hệ Quả (Phala)].
Còn trong Giai Đoạn Vấn Đề (Pañhāvāra) thì có hai Câu rất khác biệt trình bày Chi Pháp, đó là:
- Kattupada – Câu Chủ Từ trình bày đến Pháp Năng Duyên (Paccayadhamma).
- Sampadānapada – Câu Liên Hệ (là Câu Chuyển Tự trong Quy Tắc Ngữ Pháp, là “Kusalassa dhammassa” trong kiểu mẫu ở phía trên) trình bày đến Pháp Sở Duyên (Paccayuppanna dhamma).
Nói một cách khác, trong sáu Giai Đoạn kể từ 1 – 6 lập ý rút Pháp Thực Tính ở phần Hệ Quả (Pháp Sở Duyên – Paccayuppannadhamma) lên trình bày thành Chủ Vị (Câu Chủ Từ - Kattupada) để trình bày rằng “các Hệ Quả ấy khởi sinh từ Tác Nhân chi hoặc Tác Duyên chi ?” Còn trong Giai Đoạn Vấn Đề thì lập ý rút Pháp Thực Tính ở phần Tác Nhân lên trình bày thành Chủ Vị để trình bày rằng “các Tác Nhân ấy cho khởi sinh Hệ Quả chi cũng được.”
Bốn Giai Đoạn (Vāra) Của Thục Duyên (Paccayasattati), Đó Là:
- Giai Đoạn Thuận Duyên (Paccayānulomavāra): Là giai đoạn Duyên ở Phần Thuận Tùng (Anuloma), không có việc phủ định (Paṭisedha), chẳng hạn như: “Siyā kusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjeyya Hetupaccayā”: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện mới khởi sinh do bởi Nhân Duyên cũng được không ?
- Giai Đoạn Nghịch Duyên (Paccayapaccanīyavāra): Là giai đoạn Duyên ở Phần Đối Nghịch (Paccanīya), là có việc phủ định (Paṭisedha), chẳng hạn như: “Siyā kusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjeyya NaHetupaccayā”: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện mới khởi sinh do bởi Phi Nhân Duyên cũng được không ?
- Giai Đoạn Thuận Nghịch Duyên (Paccayānulomapacca nīyavāra): Là giai đoạn Duyên ở Phần Thuận Tùng tương phối với Phần Đối Nghịch, chẳng hạn như: “Siyā kusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjeyya Hetupaccayā NaĀrammaṇapaccayā”: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện mới khởi sinh do bởi Nhân Duyên, do bởi Phi Cảnh Duyên cũng được không ?
- Giai Đoạn Nghịch Thuận Duyên (Paccayapaccanīyānuloma vāra): Là giai đoạn Duyên ở Phần Đối Nghịch tương phối với Phần Thuận Tùng, chẳng hạn như: “Siyā kusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjeyya NaHetupaccayā Ārammaṇapaccayā”: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện mới khởi sinh do bởi Phi Nhân Duyên, do bởi Cảnh Duyên cũng được không ?
Lại nữa, nên hiểu rằng việc rút lấy Duyên để nêu lên ở đây như kiểu mẫu ở phía trên là mỗi lần rút lên bắt đầu với một Duyên (gọi là Nhất Căn Nguyên - Ekamūlakaṃ). Tiếp đến rút lấy Duyên để nêu lên ở mỗi lần với hai Duyên (gọi là Nhị Căn Nguyên - Dumūlakaṃ), ba Duyên (gọi là Tam Căn Nguyên - Timūlakaṃ), bốn Duyên (gọi là Tứ Căn Nguyên - Catumūlakaṃ), năm Duyên (gọi là Ngũ Căn Nguyên – Pañcamūlakaṃ) và hết tất cả các Căn (Tổng Căn Nguyên – Sabbamūlakaṃ) tùy theo các trường hợp.
Khi đem các Phần khác của Phương Thức kết cấu như đã đề cập đến kết cấu Quy Tắc Ngữ Pháp Pāli để trình bày đến các Phần Phát Thú khác thì Quy Tắc Ngữ Pháp Pāli sẽ có được năm điều Pháp phối hợp, đó là:
- Pháp Năng Duyên (Paccayadhamma): Là Pháp Thực Tính ở phần Tác Duyên hoặc Tác Nhân.
- Pháp Sở Duyên (Paccayuppannadhamma): Là Pháp Thực Tính ở phần Hệ Quả.
- Pháp Thục Duyên (Paccayasattatidhamma): Là Pháp Thực Tính ở phần Thục Luyện của Duyên.
- Pháp Địch Duyên (Paccanīkadhamma): Là Pháp Thực Tính ở phần chẳng là Pháp Sở Duyên để trình bày với các Pháp Năng Duyên.
Kiểu mẫu Quy Tắc Ngữ Pháp Pāli của Tam Đề Phát Thú Thuận Nghịch, Giai Đoạn Liên Quan, Nhân Duyên có như sau:
“Kusalaṃ dhammaṃ paṭicca kusalo dhammo uppajjati Hetu paccayā”: Pháp Thực Tính Thiện nương nhờ (liên quan) Pháp Thực Tính Thiện khởi sinh do bởi Nhân Duyên.
Câu nói rằng Kusalaṃ dhammaṃ là câu trình bày Pháp Năng Duyên.
Câu nói rằng Kusalo dhammo là câu trình bày Pháp Sở Duyên.
Câu nói rằng Hetupaccayā là câu trình bày Pháp Thục Duyên.
Còn Pháp Địch Duyên ở trong Quy Tắc Ngữ Pháp này, tức là các Pháp Thực Tính khác mà chẳng ở phần Kusalo dhammo (Pháp Thiện), có thể là Akusalo dhammo (Pháp Bất Thiện) hoặc Abyākato dhammo (Pháp Vô Ký) cũng được.
