Duyên khởi của mùa Lễ Bạt Tiến (Dontā Pūjā). Trong Kinh Tiểu Bộ, Tập 7, Ngạ Quỷ Sự, bài Kinh thứ năm, Hộ Ngoại Ngạ Quỷ Sự (Tirokuḍḍapeta). Đức Thế Tôn trong khi ngự tại Rājagaha, đã kể lại câu chuyện này liên quan đến một số lớn ngạ quỷ.
Tóm tắt nội dung của bài Kinh là kể về tích truyện người phải sinh làm ngạ quỷ và nhờ thân quyến làm phước hồi hướng cho mới được siêu sinh nơi nhàn cảnh:
Một thuở nọ, Đức Phật ngự nơi Trúc Lâm Tự (Veluvana), gần thành Vương Xá (Rājagaha). Một hôm Đức Vua Bimbisāra đã đang nằm ngủ mơ màng, thoạt nhiên nghe những tiếng khóc than, nô nức đông đầy, có hơn 8 muôn chúng sinh, chợt tỉnh ra thấy những người hình tướng dị kỳ gầy còm, còn da bọc xương cao lớn, bụng to, lông tóc bù xù, thân thể lõa lồ trông rất ghê sợ, khóc than kêu la đói khát, xin Ngài cho vật thực. Rạng tinh sương ra, Đức Vua cho người sắm sửa thực phẩm đủ thứ, đem xả thí cho các hàng ngạ quỷ ấy. Thế nhưng khi tối lại, cũng vẫn thấy la khóc đòi vật thực như đêm trước. Rạng tinh sương, Đức Vua đã đến Kỳ Viên Tự tác bạch đến Đức Phật về câu chuyện ấy. Đức Thế Tôn bèn giải thích rằng: “Đại Vương, các hàng ngạ quỷ ấy là thân quyến của đại vương cách đây 91 kiếp quả địa cầu, là những người trước kia lo coi nấu nướng vật thực, để dâng cúng đến Đức Phật Vipassῑ, và 10 muôn Chư Tăng. Khi làm xong chưa đến giờ thọ trai, các con khóc đòi lấy cho ăn chút ít, lần lần đến vợ, và sau, họ cũng múc ăn trước, làm như vậy lối 3 tháng, nên sau khi chết, phải đọa vào Địa Ngục thật lâu đời, vì tội lấy vật thực dâng cúng đến Đức Phật và Chư Tăng mà đã ăn trước. Khi còn dư sót quả báo, phải tái sinh làm ngạ quỷ, phải chịu đói khát hơn 90 kiếp của quả địa cầu, không từng được miếng vật thực nào vào miệng.”
Đức Vua tác bạch với Đức Thế Tôn phải làm cách nào cho các hàng ngạ quỷ ấy được siêu thoát. Đức Phật đã giảng giải rằng: “Nên thỉnh Chư Tăng làm phước Trai Tăng, rồi hồi hướng Quả lành thì mới thọ hưởng được.” Liền khi ấy Đức Vua cung thỉnh Đức Phật và Chư Tăng ngày mai đến Thọ Trai. Đức Thế Tôn đã nhận lời bằng cách làm thinh.
Sáng ra, khi thực phẩm đã làm xong, Đức Vua cho người đến cung thỉnh Đức Phật và Chư Tăng đến thọ thực, và đồng thời hồi hướng quả lành ấy đến các hàng ngạ quỷ. Các hàng ngạ quỷ ấy vui mừng thọ hưởng phước báu xong, thì thân mình trở nên mập mạp tốt tươi thơ thới an vui. Đến tối lại, các hàng ngạ quỷ cũng cho Đức Vua thấy hình tướng tốt đẹp nhưng còn bị lạnh lẽo vì thân thể còn lõa lồ. Sáng lại Đức Vua bèn cung thỉnh Đức Phật và Chư Tăng đến dâng cúng y áo, để hồi hướng đến các hạng ngạ quỷ ấy. Liền khi ấy, các hạng ngạ quỷ lãnh được đầy đủ phước báu, có y phục đầy đủ tốt đẹp và được siêu sinh nơi nhàn cảnh.
Tóm lại qua bài Kinh này, Đức Thế Tôn Ngài đã với lòng Đại Bi và Đại Trí, mà đã cho chúng ta những huấn từ để chúng ta biết cách hành thiện xả thí, và hồi hướng Phước Thí ấy đến quyến thuộc đang ở trong Cõi Khổ, với tấm lòng Tri Ân và Báo Ân đến những thân bằng quyến thuộc đã quá vãng mà đang ở trong Cõi Khổ. Sự Tri Ân và Báo Ân này đều có được sự lợi lạc, quả phước thù thắng cho cả người tác hành Thiện Sự và chúng sinh thọ nhận Quả Phước Báu ấy.
Lễ Bạt Tiến còn có nghĩa sâu rộng là sự “Tri Ân và Báo Ân”, tức là sự biết ân, và báo đền ân đức, chứ không phải chỉ riêng ý nghĩa là báo hiếu. Báo hiếu là chỉ để dành cho hàng con cái đến với Cha Mẹ. Thế nhưng Tri Ân và Báo Ân thì cho đến với Ông Bà Cha Mẹ, Thân Bằng Quyến Thuộc, Bậc Giáo Thọ, học trò, bằng hữu, v.v….Thêm nữa Tri Ân và Báo Ân không chỉ cho đến Ông Bà Cha Mẹ, hay quyến thuộc trong một kiếp mà chí đến trong nhiều kiếp. Trong vòng luân hồi sinh tử, tử sinh, không biết một người đã đi qua bao nhiêu ngàn kiếp và Như vậy đã có biết bao nhiêu Ông Bà Cha Mẹ và thân bằng quyến thuộc. Ở trong đời, người biết Tri Ân rất hiếm có, mà người biết Tri Ân rồi biết Báo Ân lại càng khó hơn ! Đức Thế Tôn đã dạy hai Pháp Tri Ân và Báo Ân cũng như Pháp (Dhamma) và Luật (Vinaya), và có những ý nghĩa như sau:
. Người không biết Tri Ân là người không có học hiểu Giáo Pháp. Tức là người không có học hiểu lời dạy của Đức Thế Tôn.
. Người biết Tri Ân mà không biết Báo Ân, là người liễu tri Giáo Pháp, nhưng không thực hành Giới Luật. Tức là người không thi hành giới luật.
. Người biết Tri Ân và biết Báo Ân, là người hiểu Pháp và hành Luật.
Lễ Bạt Tiến cũng không những chỉ dành cho người dưới đối với bề trên, như là con cái đối với Ông Bà Cha Mẹ, Trò đối với Thầy. Lễ Bạt Tiến cũng còn cho những Bậc bề trên như là Ông Bà Cha Mẹ, đối với con cháu, hoặc Thầy đối với trò, vì lẽ có ai biết được Vô Thường (Anicca), có ai biết được rằng người tóc trắng tiển đưa người tóc còn xanh. Thêm nữa Lễ Bạt Tiến không chỉ để thể hiện sự Tri Ân và Báo Ân cho người quá vãng, mà đến cho cha mẹ, ông bà, quyến thuộc còn đang hiện tiền.
Thực hành những chi trong mùa lễ này ?
Trong mùa Lễ Bạt Tiến (Dontā) này thì các vị Thí Chủ, Thiện Nam – Thiện Nữ, Phật Tử với tác ý trong sạch, suy nghĩ chân chánh, và làm việc thiện trong mùa lễ này để hồi hướng cho quyến thuộc đã quá vãng và chia phước cho thân bằng quyến thuộc, Ông Bà Cha Mẹ còn đang hiện tiền. Để cho một người thực hành dâng lễ cúng dường, xả thí được hưởng tròn đầy Quả Phước Báu thù thắng, rộng lớn trong mùa lễ Bạt Tiến, thì cũng nên cần biết những điều sau đây:
Tác ý trong sạch: Người thực hành lễ này phải có tác ý dụng công để được thành đạt kết quả cho quyến thuộc đã quá vãng. Phải có tác ý hiểu biết và suy nghĩ rằng ai là những vị sẽ nhận quả phước này. Thông thường thì chúng ta suy nghĩ rằng sẽ cho phước đến Ông Bà Cha Mẹ đã quá vãng trong kiếp hiện tiền này, nhưng thật ra thì còn có Ông Bà Cha Mẹ, hay con cháu của chúng ta ở trong nhiều kiếp quá khứ đã quá vãng, mà ở trong Cõi Khổ thì họ cũng cần quả phước để được hưởng phần lợi lạc mà thăng tiến đến các Cõi tốt lành hơn. Người thực hành lễ này, có tác ý cúng dường đến Chư Tăng đã an trú tu tập trong Giới, Định Tuệ, để kiến tạo Phước báu mà hồi hướng đến thân bằng quyến thuộc đã quá vãng, và chia phước đến Ông Bà Cha Mẹ, thân bằng quyến thuộc còn đang hiện tiền. Thêm nữa, dâng lễ cúng dường tứ vật dụng đến những vị xuất gia trong mùa an cư mà một việc Thiện Công Đức qua xả thí, mà một việc Thiện với Tam Tư thì được tròn đầy Quả Phước Báu. Tam Tư tức là Tư Tác Ý, là sự tác ý của người thực hành thiện sự trong ba giai đoạn, đó là:
(1) Tư Tiền (Pubbacetanā – Tác Ý và dụng công trước khi làm): Hoan hỷ, vui thích, và như vậy chuẩn bị chu toàn, để thực hiện việc Thiện mà mình sẽ dâng cúng tứ vật dụng đến các Bậc xuất gia trong mùa an cư, để tạo phước báu, hồi hướng cho Ông Bà Cha Mẹ, con cháu, thân bằng quyến thuộc đã quá vãng trong tinh thần biết Tri Ân và Báo Ân.
(2) Tư Hiện (Muñcacetanā – Tác Ý và dụng công đang khi làm): Thực hiện việc Thiện với Tâm tịnh tín, đức tin trong sạch vào Nhân Quả. Tin rằng do Nhân của việc Thiện trong sự hoan hỷ, cúng dường tứ vật dụng đến các vị xuất gia, đúng thời, đúng Pháp, trong Tam Tư sẽ được Quả phước to lớn và Phước Báu này đem hồi hướng đến quyến thuộc đã quá vãng thì họ sẽ được thăng tiến đến cảnh an vui. Thêm nữa, người hành Thiện cũng được quả an vui. Do hiểu như vậy người làm được hoan hỷ, mau lẹ không chậm trể để làm.
(3) Tư Hậu (Aparacetanā – Tác Ý và dụng công sau khi làm): Hoan hỷ với việc Thiện mà mình đã làm, không trạo hối (hối hận, hối tiếc, ăn năn, hối tiếc) việc Thiện mà mình đã làm.
. Suy nghĩ chân chánh: Có Tác Ý trong sạch là sự suy nghĩ không Tham, không Sân, không oán hận trong đó.
. Làm việc Thiện: Ba điều mà Phật Tử cần phải thực hành trong cuộc lễ, là Giới, Định, Tuệ. (1) Phật Tử xin giới, hay thọ giới xong thì phải hồi hướng phước báu đến quyến thuộc đã quá vãng hay còn đang tại tiền liền ngay không chậm trể. (2) Phật Tử thính Pháp do các vị Pháp Sư, Bậc Giáo Thọ giảng dạy trong cuộc lễ xong cũng phải hồi hướng phước báu ngay liền, không chậm trể đến cho thân bằng quyến thuộc đã quá vãng hay đang tại tiền. (3) Phật Tử tọa thiền trong buổi lễ có Định Tuệ thì cũng đem phước báu ấy hồi hướng ngay liền đến thân bằng quyến thuộc ngay liền, không chậm trể.
. Hồi hướng: Là quy về hay hướng về người quá vãng mà cho phước báu cho họ. Do đã có sự tác ý, dụng công, suy nghĩ chân chánh, cùng với Tam Tư như đã trình bày ở trên, mà mọi phước thiện đã tạo, thì đem hồi hướng ngay liền, không chậm trể, không do dự. Hồi hướng cũng là một Pháp trong Thập Phúc Hành Tông, tức là một trong mười Pháp Thiện được thực hành để có Quả Phước Báu. Vì vậy nếu người làm việc Thiện là đã có phước báu, rồi lại đem hồi hướng, thì lại càng thêm được phước báu. Thế nhưng không dừng ở đây mà phước báu lại càng tăng trưởng vì khi hồi hướng là đã thực hành luôn những Pháp Phúc Hành Tông khác, ví dụ như là Cung Kỉnh, Phụng Hành, Chân Tri Chước Kiến. Sưu Tập Pháp I đã có nói về Thập Phúc Hành Tông và Hồi Hướng Phúc Hành Tông.
. Chia Phước: Theo tinh thần Tri Ân và Báo Ân thì đâu phải mình chỉ Tri Ân và Báo Ân và hồi hướng đến Ông Bà Cha Mẹ, thân bằng quyến thuộc đã quá vãng, mà còn phải chia phước báu ấy đến cho Ông Bà Cha Mẹ, thân bằng quyến thuộc còn đang hiện tiền.
Ở đây xin được chia sẻ về năm điều mà sau khi làm một việc phước thiện, một người nên làm:
(1) Chú nguyện cho chính bản thân người đã làm việc thiện;
(2) Hồi hướng đến Chư Thiên, Vua Trời Đế Thích (Sakka), tât cả các Ngài Tứ Đại Thiên Vương, Chư Thiên ở khắp mọi nơi nhất là Chư Thiên tại trú xứ của mình;
(3) Hồi hướng đến Cửu Huyền Thất Tổ, Nội Ngoại hai bên, Ông Bà Cha Mẹ đã quá vãng;
(4) Chia phước đến Ông Bà Cha Mẹ, thân bằng quyến thuộc còn đang hiện tiền;
(5) Hồi hướng đến Chư Diêm Vương, đến chúng sinh trong ba Giới (Dục Giới – Sắc Giới – Vô Sắc Giới), bốn Loài (Noãn Sinh, Thai Sinh, Thấp Sinh, Hóa Sinh).
Như đã trình bày ở trên, vào khoảng thời gian 45 ngày sau tháng thứ nhất của mùa An Cư, từ ngày Rằm tháng Bảy âm lịch cho đến ngay 30 tháng Tám âm lịch, thì một người có thể chọn bất luận ngày nào trong khoảng thời gian ấy mà thực hành việc dâng cúng tứ vật dụng đến những Bậc xuất gia đang an cư tu tập tại các trú xứ mà thuận tiện trong việc thiện sự dâng lễ cúng dường.
Vì sao dâng cúng Tứ Vật Dụng đến các Bậc xuất gia trong mùa Lễ Bạt Tiến ?
Ở đây thiết nghĩ cũng xin chia sẻ thêm nữa, hoặc nhắc lại về phần cúng dường Tứ Vật Dụng. Tất cả chúng sinh trong thế gian đều phải dùng bốn vật dụng ấy, dầu thế nào cũng phải nhờ một trong bốn món ấy mới có thể sống còn được, cho nên gọi là vật dụng. Bốn vật dụng ấy là: (1) Y áo (Cῑvara): Y phục để mặc, đắp, trùm cho kín thân thể; (2) Vật thực, bổ phẩm (Piṇdapāta): Vật thực để duy trì thân thể; (3) Chỗ ngồi, chỗ nằm để cho thân thể an nghỉ (Senāsana); (4) Thuốc men (Gilānabhesajja): Thuốc chữa bệnh để bảo hộ thân thể.
Đó là bốn vật dụng, hay một trong bốn món này là rất cần thiết cho nhu cầu đời sống của một chúng sinh, vì thế việc dâng cúng Tứ Vật Dụng là việc thiết thực cho một Bậc xuất gia. Thế nhưng đặt biệt là trong mùa Lễ Bạt Tiến thì những vật thí ấy không những đến cho Chư Tăng mà với lòng mong cầu cho quả phước thí ấy đến cho quyến thuộc ở trong Cõi Khổ, để họ thoát khỏi Cõi Khổ, và thăng tiến trong Cõi an lạc do bởi nhờ vào đầy đủ phước thí Tứ Vật Dụng đến Chư Tăng. Do sự khéo tác ý và dâng cúng vật thí đúng Pháp đến Chư Tăng đã kiên định trong sự tu tập Giới Định Tuệ trong mùa an cư mà phước báu được thành tựu ngay liền đến cho quyến thuộc đã quá vãng. Và do sự hoan hỷ với phước báu, mà được đến từ những người thân của mình, những ngạ quỷ, hay quyến thuộc đã quá vãng ở trong Cõi Khổ, được hoan hỷ thọ hưởng mà được thoát ra Cõi Khổ. Như vậy một người phải nên cúng dường Tứ Vật Dụng, gồm có y áo, bổ phẩm, thuốc men, và trú xứ đến Chư Tăng trong mùa an cư, và rồi đêm hồi hướng phước thí ấy đến những quyến thuộc trong Cõi Khổ, để họ được hoan hỷ thọ hưởng phước báu ấy mà thoát ra khỏi Cõi Khổ và thăng tiến đến Cõi an nhàn, có đầy đủ bốn thứ vật dụng cần thiết. Đó là việc làm đúng theo Chánh Pháp. Chứ không phải vào ngày Rằm Tháng Bảy, rồi đi mua tiền giấy vàng mã, xe hơi giấy, nhà lầu giấy, và đủ các thứ tiện nghi bằng giấy rồi đem đốt cho họ. Đó là việc làm không đúng theo Chánh Pháp, làm theo sự không có hiểu biết, làm theo sự thấy sai chấp lầm (Tà Kiến). Và Như vậy thì vừa hao tài tốn của, không có lợi lạc cho mình, không có quả phước thí để cho thân bằng quyến thuộc đã quá vãng đang trong Cõi Khổ. Như đã nói ở trên, nếu một người không được học hiểu và không làm đúng theo Chánh Pháp, thì thân bằng quyến thuộc của họ đã khổ lại còn bị khổ hơn vì sự trong mong, chờ đợi mà không nhận lãnh được thứ chi. Và rồi họ nhìn những ngạ quỷ khác được thân bằng quyến thuộc của những ngạ quỷ ấy tạo được Phước Thí và cho đến những ngạ quỷ ấy, thì họ càng khổ thêm. Ngoài việc dâng lễ cúng dường Tứ Vật Dụng, Thiện Nam – Thiện Nữ, Phật Tử cũng có thể đến chùa, thiền viện, hay các trú xứ mà có các vị xuất gia đang an cư ở ấy, để cùng tu tập một ngày, hay nhiều ngày trong tinh thần Tứ Chúng đồng tu, để tạo Phước Trí cho mình với sự trợ lực của các vị tu hành, rồi đem quả phước ấy hồi hướng cho quyến thuộc đã quá vãng. Hoặc người Thiện Nam – Thiện Nữ đến chùa cùng tham dự cuộc Lễ Bạt Tiến do Thí Chủ sắp đặt, thọ Bát Quan Trai Giới, tu tập, hành thiền, trau giồi phát triển Pháp Học, Pháp Hành, tham dự đêm Đầu Đà (Dhutaṅga – Điều Tiết Dục) để tạo phước báu và đem phước báu ấy mà hồi hướng cho thân bằng quyến thuộc, Ông Bà Cha Mẹ đã quá vãng hay còn đang hiện tiền.
Điều mà chúng ta cũng cần nên biết đó là vào mùa lễ này có những người gởi tên của Ông Bà Cha Mẹ đã quá vãng đến chùa và xin các Sư, Thầy tụng kinh hồi hướng cho những người quá vãng ấy. Việc làm ấy thì cũng rất quý, chứ không phải là không được, thế nhưng không do chính mình làm việc Thiện tạo phước báu rồi hồi hướng cho quyến thuộc của mình. Những thân bằng quyến thuộc của ấy nếu ở trong Cõi Khổ thì họ rất cần phước báu, và họ mong mỏi để nhận được phước báu từ những quyến thuộc của họ. Vì thế nếu không nhận được từ thân bằng quyến thuộc của họ (Ông Bà Cha Mẹ, con cháu, anh chị em, quyến thuộc), thì họ sẽ khổ lắm, và họ sẽ càng khổ hơn nữa bởi do họ thờ ơ không dám nhận từ những vị xuất gia tu hành, mà chỉ trông mong vào những người thân của họ. Những người quá vãng ấy ở trong Cõi Khổ, họ mong mỏi, trông chờ, rất cần có phước báu đến từ con cháu, hay Ông Bà Cha Mẹ của họ là vì họ có ái luyến, dính mắc cho nên đi tìm kiếm đến thân bằng của họ mà chờ đợi, mà xin Phước. Trong tích truyện về thân bằng quyến thuộc của Vua Bimbisāra cũng như vậy, họ đã chờ đợi đến trải qua thời gian của ba vị Phật, cho đến thời gian của Đức Phật Gotama, và với sự giáo huấn của Đức Phật Gotama mà Vua Bimbisāra mới biết đem phước báu làm được do dâng cúng vật thực đến Đức Phật và Chư Tăng mà đem hồi hướng đến thân bằng quyến thuộc của nhà Vua mà đã chờ đợi, mong mỏi qua bao nhiêu ngàn Đại Kiếp. Đức Phật Gotama là Đức Thế Tôn mà chúng ta đang sống, và hưởng được Ân Đức của Ngài, cũng như Ân Đức của Giáo Pháp và Tăng Đoàn của Ngài để lại.
Điều tốt nhất là một người đến chùa cùng dâng Tứ Vật Dụng cúng dường, cùng tu tập, làm lễ, thọ giới, thính Pháp, thiền định, thọ đêm Đầu Đà (Dhutaṅga – Điều Tiết Dục), v.v…, những điều chi mà người ấy làm được, thì nên làm, rồi có được phước báu, rồi tự mình và cùng với oai lực, phước báu của các vị thọ nhận lãnh vật thực cúng dường, mà hồi hướng đến cho thân bằng quyến thuộc đã quá vãng cũng như còn đang hiện tiền. Thêm nữa, chúng ta cũng cần nên hiểu rằng chúng ta không thể giao phó việc hồi hướng Ông Bà Cha Mẹ, thân bằng quyến thuộc đã quá vãng của chính mình cho các vị xuất gia chu toàn, vì như đã có trình bày ở trên, là cho dầu các bậc tu hành có hồi hướng cho họ thì có khi họ lại thờ ơ không dám nhận, vì thế thì khổ lại càng khổ hơn, vì cần phước báu và sự trông mong, chờ đợi, và thất vọng. Lại nữa, người quá vãng thì ta lo làm việc Thiện để hồi hướng cho họ. Người tại tiền, Ông Bà Cha Mẹ, anh chị em, quyến thuộc, thì chúng ta nên nhắc nhở họ tu tập, hành Thiện Sự để tự họ được tránh xa bốn đường Khổ Thú là địa ngục, ngạ quỷ, A-tu-la, và súc sinh. Đối với người cận tử lâm chung thì chúng ta mau mau nhắc nhở họ biết Quy Y Tam Bảo, thọ trì Ngũ Giới, và Niệm Phật. Nhưng đây cũng là một vấn đề tế nhị, cho nên nếu họ là người chưa biết đến chùa, tu tập, nghe kinh Thính Pháp, thì chúng ta cũng nên từ tốn, nhẫn nại với lòng từ mà khuyên nhủ, dẫn dắt họ. Cũng như vậy, nếu một người đã quá vãng mà không biết đến chùa, chưa biết thân cận các vị xuất gia, nghe kinh, Thính Pháp, thì làm sao họ hoan hỷ mà nhận sự hồi hướng phước báu từ những vị xuất gia.
Do vậy như đã trình bày ở trên là chúng ta phải biết tác ý và dụng công để việc hồi hướng được thành tựu. Ở đây cũng nên chia sẽ thêm về phần tác ý, dụng công để hồi hướng, như sau: (1) Đối với người quá vãng thì cần biết là họ là người có đức tin hay không có đức tin; (2) Người đó có Thiện Nghiệp Lực hay Bất Thiện Nghiệp Lực trong khi còn tại thế; (3) Phước báu của người làm để hồi hướng là Phước Hữu Lậu, hay Phước Vô Lậu; (4) Cần thỉnh Chư Thiên mách bảo giùm cho họ nếu họ không hay biết.
Cũng nên thêm nữa là không phải tất cả những Ông Bà Cha Mẹ đã quá vãng đều thọ lãnh được phước báu do người thân của họ hồi hướng đến cho. Trong tích truyện Jāṇussoṇi Brāhmaṇa, có nói như sau: “Có một người Bà La Môn tên là Jāṇussoṇi đến tác bạch Đức Thế Tôn như vầy: Chúng tôi lo làm việc lành, nhứt là bố thí, trì giới, rồi hồi hướng đến quyến thuộc (Ông Bà Cha Mẹ, v.v…) đã quá vãng. Như vậy, quyến thuộc chúng tôi đến thọ lãnh quả phước đó được chăng ? Đức Phật đáp: “Ṭhāne kho aṭhāne kho brāmaṇa” – Này Bà La Môn, đáng được cũng có, không đáng được cũng có:
(1) Chúng sinh đã làm Ác Nghiệp (Bất Thiện) do Thân, Ngữ, Ý. Đến khi thân hoại mạng chung, tan rã Ngũ Uẩn, phải thọ sinh trong Cõi Địa Ngục thì phải chịu nhiều điều khổ não nặng nề, vì Ác Quả đó, nên không thể đến thọ lãnh được phước của thân quyến hồi hướng cho.
(2) Chúng sinh đã làm tội cho Thân, Ngữ, Ý, sau khi mạng chung phải bị luân hồi làm cầm thú, có thực phẩm riêng theo loài của chúng nó, chúng nó không thọ hưởng được phước báu của thân quyến hồi hướng cho.
(3) Chúng sinh không làm tội do Thân, Ngữ, Ý, sau khi thác được sinh trong Cõi Trời, sẵn có Tiên Thực Phẩm tự nhiên, không cần thọ thực phẩm thân quyến bố thí, hồi hướng cho cũng không thành tựu.
(4) Chúng sinh đã làm tội bằng Thân, Ngữ, Ý, sau khi quá vãng, tục sinh trong loài Ngạ Quỷ, hằng chịu đói cơm, khác nước, khi có thân quyến bố thí cúng dường hiệp theo lẽ Đạo, rồi hồi hướng cho. Ngạ quỷ hoan hỷ thọ lãnh vật thí đó biến thành thực phẩm, hưởng rồi được an vui, khỏi đường ngạ quỷ, đi thọ sinh trong Cõi nhàn cảnh Nhân Thiên.
Đức Thế Tôn vừa thuyết xong về cách đáng thọ lãnh cùng không đáng thọ lãnh, người Bà La Môn bèn tác bạch rằng: “Nếu người đi làm phước, hồi hướng mà các ngạ quỷ không được thọ lãnh, thì phước đó trú nơi nào ? Là của ai ? Ai đem đi ?”
Đức Thế Tôn đáp: “Này Bà La Môn, chúng sinh nào còn bị xoay vần trong vòng luân hồi, thì không khỏi sa đọa trong đường ngạ quỷ, chúng sinh đó sẵn lòng hoan hỷ thọ lãnh phần phước, vì còn phải chuyển sinh nhiều đời, nhiều kiếp, hằng luân hồi làm thân quyến cùng nhau vô cùng vô tận kiếp….Nếu quả bố thí không thấu đến hạng ngạ quỷ, thì về phần Thí Chủ, vì Thí Chủ đã có Tác Ý trong sạch trong khi cho. Vì cớ ấy, thí chủ là người được quả lành trước hết tất cả ngạ quỷ. Lại nữa, những ngạ quỷ thọ lãnh phần phước là hàng ngạ quỷ Dabajῑvῑ, có tâm hoan hỷ trong việc phước, các hàng khác không có thể thọ lãnh được.
Còn về phần ngạ quỷ Paradattūpajῑvῑ đáng thọ lãnh cũng phải hiệp theo ba chi, đó là: (1) Thí chủ phải dâng cúng đến Chư Tăng hoặc Bậc tu hành trong sạch; (2) Khi đã xả thí vừa rồi, cần phải chú tâm hồi hướng phần phước đến hàng ngạ quỷ; (3) Ngạ quỷ phải hoan hỷ thọ lãnh phần phước đó.
Tóm Lược Lễ Bạt Tiến
Qua phần này, đã trình bày ý nghĩa của Mùa Lễ Bạt Tiến (Dontā) và những điều chúng ta cần nên hiểu biết để thực hành Thiện Sự: xả thí, cúng dường, thọ giới, tu tập, Thính Pháp, nghe kinh, tu tập trau giồi Giới, Định, Tuệ để tạo Phước. Và rồi hồi hướng hay chia Phước Báu đúng Pháp để thành tựu việc hồi hướng đến Ông Bà Cha Mẹ, quyến thuộc đã quá vãng, hay chia sẻ đến quyến thuộc đang tại tiền, để vượt ra khỏi cảnh khổ, mà thăng tiến đến cảnh an vui. Sau đây là những nội dung chính cần ghi nhớ:
. Từ ngày Rằm tháng Bảy âm lịch, đến ngày 30 tháng Tám âm lịch (15 tháng Bẩy – 30 tháng Tám âm lịch), tức là trong khoảng thời gian 45 ngày đã được an trú, thúc liễm thân tâm, tu tập trau giồi, phát triển Giới, Định, Tuệ, là thời gian thuận tốt cho việc thực hành Lễ Bạt Tiến để tạo phước báu để hồi hướng và chia sẻ đến thân bằng quyến thuộc đã quá vãng cũng như tại tiền được siêu bạt thoát ra khỏi Cõi Khổ để thăng tiến đến Cõi an lành.
. Các việc Thiện cần làm là dâng cúng (Xả Thí) Tứ Vật Dụng đến các vị xuất gia đang trong mùa an cư, thọ giới, tu tập, thính Pháp, thọ Đầu Đà (Dhutaṅga – Điều Tiết Dục), v.v., để tạo Phước Báu. Hành các việc Thiện này với Tâm hoan hỷ, làm mau lẹ, với Tác Ý suy nghĩ chân chánh, và có Tam Tư (Tư Tiền, Tư Hiện, Tư Hậu).
. Hồi hướng Quả Phước Báu ngay liền, không chậm trể đến quyến thuộc đã quá vãng, và chia phước đến quyến thuộc còn tại tiền. Thế nhưng điều quan trọng là không quên chú nguyện cho mình mau sớm Đạo Quả, Níp Bàn, thoát khỏi Khổ Sinh Tử Luân Hồi.
. Ông Bà Cha Mẹ, thân bằng quyến thuộc đã quá vãng mà ở trong Cõi Khổ thì họ cần có phước báu và trông mong, chờ đợi Quả Phước Báu cho từ nơi người thân của họ còn đang tại tiền, vì do sự luyến ái, dính mắc. Do vậy những người thân còn đang tại tiền nên biết cách tác ý hành thiện sự để hồi hướng quả phước cho họ để họ được siêu bạt ra khỏi Cõi Khổ, và thăng tiến đến Cõi an lành như nghĩa của Mùa Lễ Bạt Tiến.
. Thực hành việc Thiện đúng theo Chánh Pháp, hiệp theo lẽ Đạo, chân chánh với sự hiểu biết xả thí cúng dường đến Chư Tăng, tu tập để có phước và hồi hướng phước báu ấy đến cho họ, chứ đừng đốt tiền giấy, xe hơi giấy, nhà lầu giấy hay những thứ vật tiện nghi khác bằng giấy đến cho họ. Nếu mà làm như vậy chẳng khác gì muốn cho họ ở trong Cõi Khổ hoài mà không siêu bạt và thăng tiến được. Như vậy họ sẽ khổ lắm thay !
. Phải hồi hướng Phước ngay trong khi dâng cúng vừa rồi, nếu hồi hướng trong thời khác, không được kết quả, vì trong lúc đó hàng ngạ quỷ sẵn chờ để thọ lãnh, ví như những người nghèo đói đến xin ăn mà thí chủ không cho, khi họ bỏ ra đi khỏi, dầu có cho cũng không có người lãnh.
. Lại nữa, xả thí, dâng lễ cúng dường đến người phá giới, giới không trong sạch, hoặc không giữ giới, cũng không được thành tựu đến ngạ quỷ. Thêm nữa, đã dâng cúng đến bậc có phẩm hạnh, có ngạ quỷ đến chờ, mà thí chủ không hồi hướng, hàng ngạ quỷ cũng không có thể thọ được, như trong tích truyện ngạ quỷ quyến thuộc của Đức Vua Bimbisāra. Đức Vua đã dâng cúng lễ vật đế Chư Tăng trong ngày đầu mà quên hồi hướng, quả phước cũng không thành tựu đến ngạ quỷ được. Ngày thứ hai, được nghe Đức Thế Tôn giảng thuyết xong, bố thí thêm, rồi hồi hướng, các hàng ngạ quỷ mới hoan hỷ thọ lãnh được, và sau khi thọ lãnh được sinh vào Cõi nhàn cảnh Nhân Thiên.
. Cũng nên ghi nhớ rằng thiết lập Lễ Bạt Tiến (Dontā) trong mùa an cư kiết vũ. Tức là an cư, an trú ở một nơi trong một trú xứ vào những tháng mùa mưa để tránh bớt lưu chuyển giẫm, đạp côn trùng, và thúc liễm thân tâm, tràu giồi và phát triển Giới, Định Tuệ. Chứ không phải an cư mùa hạ. Vào mùa hạ mà không phải mùa mưa, an cư tu tập thì cũng tốt, nhưng nếu mùa mưa mà luân chuyển, du hành không trong sự thúc liễm để tránh giẫm đạp chết côn trùng, như vậy thì không theo đúng như sự giáo huấn của Đức Thế Tôn khi còn tại thế, và không trọn vẹn ý nghĩa của mùa an cư.
Mong rằng qua phần chia sẻ ý nghĩa của Lễ Bạt Tiến này, kính mong quý Hảo bằng hữu, Thiện nam, Thiện nữ có đủ thông tin để thực hành Thiện sự và hồi hướng hay chia sẻ Phước Báu đến quyến thuộc của mình trong tinh thần Tri Ân (Kataññū) và Báo Ân (Kataññūveditā) chân chánh, để giúp cho người thân của mình, đang ở trong cảnh khổ, được siêu bạt khỏi cảnh khổ, và thăng tiến đến cảnh an nhàn.
“Cây xanh thời lá cũng xanh,
Cha Mẹ hiền lành để Đức cho con.
Mừng cây rồi lại mừng cành,
Cây Đức lắm chồi, người Đức lắm con.
Ba vuông sánh với bảy tròn,
Đời Cha vinh hiển đời con sang giàu.”
Chú Giải: Attadattha: Lợi ích của mình mà Đức Phật dạy không phải những lợi ích về của cải trong Tam Giới, mà là lợi ích về 9 Pháp Siêu Xuất Tam Giới, đó là 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả, Níp Bàn. Lắng nghe bài kệ xong, Trưởng Lão Attadattha liền chứng đắc thành Bậc Thánh Vô Sinh, còn các vị Tỳ Khưu khác cũng được lợi ích tùy theo khả năng Ba La Mật của mình. Trường hợp tương tự như tích truyện trên, Trưởng Lão Tissa nghe Đức Phật sắp Viên Tịch Níp Bàn, Trưởng Lão nghĩ rằng: “Đức Phật sắp Viên Tịch Níp Bàn, Ta vẫn còn Tham Ái chưa diệt tiệt được. Vậy Ta nên cố gắng tinh tấn thực hành thiền Tuệ Giác để chứng đắc thành Bậc Thánh Vô Sinh, khi Đức Phật hiện đang còn trên thế gian”. Nghĩ xong, Trưởng Lão ở một mình một nơi thanh vắng, thực hành 4 oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm. Dù các Tỳ Khưu đến gặp Trưởng Lão, động viên khuyến khích Trưởng Lão đến hầu Đức Phật, Ngài vẫn im lặng không nói lời nào với các vị Tỳ Khưu ấy. Các vị Tỳ Khưu đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bèn tác bạch rằng: “Bhante, tumhesu Tissattherassa sineho natthi”. “Kính bạch Đức Thế Tôn, Trưởng Lão Tissa không có lòng quý kính đối với Đức Thế Tôn.” Đức Thế Tôn cho truyền gọi Trưởng Lão Tissa đến hầu Ngài. Đức Thế Tôn bèn hỏi Tỳ Khưu Tissa rằng: “Kasmā Tissa evaṃ akāsi ?” Này Tissa, tại sao con mà làm như vậy ? Trưởng Lão Tissa bạch với Đức Thế Tôn đúng theo ý nghĩ của mình. Đức Thế Tôn tán thán ca tụng: “Sādhu !”“Lành thay !”, rồi truyền dạy Chư Tỳ Khưu rằng: “Bhikkhave, mayi sineho Tisasadisova hotu, gandhamālādῑhi pūjaṃ karontāpi ṅeva maṃ pūjenti, dhammānu dhammaṃ paṭipajjamānāyeva pana naṃ pūjenti”. “Này Chư Tỳ Khưu, các con có lòng thương kính nơi Như Lai, nên noi gương theo như Tissa. Những người cúng dường bằng hương thơm, tràng hoa, v.v….không phải là cúng dường đến Như Lai, chỉ có các Thinh Văn đệ tử đang thực hành Thiền Tuệ Giác dẫn đến chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Níp Bàn, mới thật là cúng dường đến Như Lại một cách cao thượng nhất mà thôi”.
Trường hợp tương tự như tích truyện trên, Trưởng Lão Dhammārāma nghe Đức Phật sắp Viên Tịch Níp Bàn. Trưởng Lão nghĩ rằng: “Đức Phật sắp Viên Tịch Níp Bàn, Ta vẫn còn Tham Ái chưa chưa diệt tiệt được. Vậy Ta nên cố gắng tinh tấn thực hành thiền Tuệ Giác để chứng đắc thành Bậc Thánh Vô Sinh, khi Đức Phật hiện đang còn trên thế gian”. Nghĩ xong, Trưởng Lão ở một mình một nơi thanh vắng, tư duy về lời giáo huấn của Đức Phật, rồi thực hành Thiền Tuệ Giác; Trưởng Lão không tiếp xúc, không nói chuyện với các vị Tỳ Khưu khác. Các vị Tỳ Khưu đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bèn tác bạch rằng: “Bhante, Dhammārāmassa tumhesu sinehamattampi natthi”. “Kính bạch Đức Thế Tôn, Tỳ Khưu Dhammārāmassa chẳng có một chút lòng thương kính đối với Đức Thế Tôn.” Đức Thế Tôn cho truyền gọi Trưởng Lão Dhammārāmassa đến hầu Ngài. Đức Thế Tôn bèn hỏi Tỳ Khưu Dhammārāmassa rằng: “Saccaṃ kira tvaṃ evaṃ karosi ?” Này Dhammārāma, có thật con đã đối xử với các Tỳ Khưu như vậy phải không ? Trưởng Lão Dhammārāma tác bạch với Đức Thế Tôn rằng: “Saccaṃ Bhante”. “Kính bạch Đức Thế Tôn, sự thật đúng như vậy bạch Ngài. Này Dhammārāma, con nghĩ thế nào mà đối xử như vậy ?” “Kính bạch Đức Thế Tôn, con nghe Đức Thế Tôn sắp Viên Tịch Níp Bàn, con vẫn còn Tham Ái chưa diệt tiệt được, nên con cố gắng tinh tấn thực hành Thiền Tuệ Giác để chứng đắc thành Bậc Thánh Vô Sinh, khi Đức Thế Tôn hiện đang còn trên thế gian.” Đức Thế Tôn tán thán ca tụng: “Sādhu !” “Lành thay !”, rồi truyền dạy Chư Tỳ Khưu rằng: “Bhikkhave, aññenāpi mayi sinehavantena Bhikkhunā nāma, Dhammārāmassdiseneva bhavitabbaṃ. Na hi mayhaṃ mālāgandhādῑhi pūjaṃ karontāmama jūjaṃ karonti nāma, dhammānudham maṃ paṭipajjamānāyeva pana maṃ pūjenti nāma”. “Này Chư Tỳ Khưu, Tỳ Khưu nào có lòng thương kính nơi Như Lai, thì Tỳ Khưu ấy nên noi gương theo như Dhammārāma. Những người làm lễ cúng dường đến Như Lai bằng vật thơm, tràng hoa, v.v….không phải là cúng dường đến Như Lai. Các Thinh Văn đệ tử đang thực hành Thiền Tuệ Giác dẫn đến chứng đắc 9 Pháp Siêu Xuất Tam Giới, mới thật là cúng dường đến Như Lại.” Sau đó, Đức Thế Tôn dạy câu kệ rằng:
“Dhammārāmo dhammarato,
Dhammaṃ anucicintayaṃ,
Dhammaṃ anussaraṃ bhikkhu,
Saddhammaṃ na parihāyati.”
“Tỳ Khưu nào vui thích Pháp Hành Thiền Tuệ.
Mải miết thực hành Pháp Hành Thiền Tuệ
Tư duy, suy xét sâu sắc các Pháp,
Chánh niệm theo dõi đến các Pháp Hành,
Tỳ Khưu ấy không làm hoại Chánh Pháp
Duy trì các Chánh Pháp (§) được trường tồn.”
Khi lắng nghe bài kệ xong, Trưởng Lão Dhammārāna chứng đắc thành Bậc Thánh Vô Sinh, còn Chư Tỳ Khưu cũng được nhiều lợi ích tùy theo khả năng Ba La Mật của mình.
Cúng Dường Đức Thế Tôn
Vào buổi chiều ngày Rằm tháng Tư (âm lịch) Đức Thế Tôn ngự đến khu rừng Sālā của xứ Kusinārā, nơi nghỉ ngơi của Hoàng Tộc Malla, Ngài truyền bảo Trưởng Lão Ᾱnanda rằng: “Này Ᾱnanda, con nên đặt chiếc giường quay đầu về hướng Bắc, giữa hai cây Sālā (song long thọ). Khi ấy, Đức Thế Tôn nằm nghiêng bên phải, đầu quay về hướng Bắc, hai chân duỗi so le, chân phải duỗi thẳng, chân trái đầu gối hơi co, hai chân không bằng nhau (tư thế Viên Tịch Níp Bàn). Đức Thế Tôn có chánh niệm trí tuệ tĩnh giác mà không định giờ xả. Hai cây Sālā trổ hoa trái mùa, những đóa hoa rơi xuống kim thân Đức Thế Tôn, để cúng dướng Ngài. Các cây hoa trong khu rừng đều nở rộ, những đóa hoa Trời, vật thơm Trời, hương Trời từ các cõi Trời rơi xuống như mưa, để cúng dường Đức Thế Tôn. Những tiếng nhạc Trời từ các cõi Trời cũng trỗi lên, để cúng dường Đức Thế Tôn. Khi ấy, Đức Thế Tôn truyền dạy Trưởng Lão Ᾱnanda rằng: “…Na kho Ᾱnanda, ettāvatā Tathāgato sakkato vā hoti garukato vā mānito vā pūjito vā apacito vā. Yo kho Ᾱnanda, Bhikkhu vā Bhikkhunῑ vā upāsako vā upāsika vā dhammānudhammapaṭipanno viharati sāmicippaṭipanno anudhammacāri, so Tathāgataṃ sakkaroti garuṃ karoti māneti pūjeti apaciyati paramāya pūjāya. Tasmātihānanda, dhammānudhammapaṭipannā viharissāma sāmῑcipaṭipannā anudhammacārinoti. Evañhi vo Ᾱnanda sikkhitabbaṃ.” “Này Ᾱnanda, cúng dường Như Lai bằng phẩm vật nhiều đến Như vậy, không phải là cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, tôn kính Như Lai. Này Ᾱnanda, hàng Thinh Văn đệ tử nào là Tỳ Khưu, hoặc Tỳ Khưu Ni, hoặc cận sự nam, hoặc cận sự nữ thực hành Pháp Hành Thiền Tuệ dẫn đến chứng đắc Thánh Đạo – Thánh Quả và Níp Bàn, thực hành Pháp Hành Bát Chánh Đạo, thực hành đúng theo Chánh Pháp; Thinh Văn đệ tử ấy gọi là người hết lòng cung kính, tôn trọng, lễ bái, cúng dường, tôn kính Như Lai một cách cao thượng nhất. Này Ᾱnanda, như vậy, các con nên luôn luôn tâm niệm rằng: Chúng ta là hành giả thực hành Thiền Tuệ Giác dẫn đến chứng đắc Thánh Đạo – Thánh Quả và Níp Bàn, thực hành Pháp Hành Bát Chánh Đạo, thực hành đúng theo Chánh Pháp.”
(Dῑ. Mahāvagga, Kinh Mahāparinibbānasutta – Đại Viên Tịch Níp Bàn.)
Những ngày tháng cuối cùng của Đức Phật, ngay cả đến thời gian ngắn ngủi trước khi Viên Tịch Níp Bàn, Đức Phật không nhận sự cúng dường bằng những thứ vật phẩm quý giá, dầu từ các cõi Trời; Đức Phật đề cao sự cúng dường đến Ngài bằng thực hành Pháp Thiền Tuệ Giác dẫn đến chứng đắc Thánh Đạo – Thánh Quả, và Níp Bàn, đó là sự cúng dường cao thượng nhất (Paramāya pūjāya). Đức Phật không nhận sự cúng dường bằng những thứ vật phẩm quý giá ấy, là vì sự cúng dường này thuộc phước thiện trong Cõi Dục Giới, cho Quả an lạc tạm thời trong Cõi Dục Giới, vẫn còn khổ sinh tử luân hồi. Và Đức Phật đề cao sự cúng dường bằng Pháp Hành Thiền Tuệ Giác, vì chỉ có Pháp Hành Thiền Tuệ Giác mới có khả năng dẫn đến chứng ngộ Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Níp Bàn, giải thoát khỏi khổ sinh tử luân hồi trong ba Giới bốn Loài; và đồng thời giữ gìn duy trì Chánh Pháp của Đức Phật được trường tồn lâu dài trên thế gian, đến hết tuổi thọ của Phật Giáo 5.000 năm.

