Patthana 121
XUẤT XỨ VÀ NỘI DUNG BỘ KINH PHÁT THÚ
1. Ý NGHĨA TÊN GỌI CỦA BỘ KINH PHÁT THÚ
Phân tích từ ngữ Patthàna – Phát Thú
- Pat: Là điều đầu tiên
- Thàna: Là vị trí, nền tảng, nguồn gốc, hay cơ sở
- Patthàna – Phát Thú: Là nguồn gốc, cơ sở, nền tảng hay vị trí đầu tiên của tất cả các Pháp (Pháp Hiệp Thế, Tục Đế, Chân Đế, Siêu Thế). Đại Phát Thú là cao siêu, thậm thâm, vi diệu.
Kinh Đại Phát Thú là Bộ Kinh thứ bảy của Tạng Vô Tỷ Pháp. Vô Tỷ Pháp Tạng có tất cả 7 Bộ, 6 Bộ đầu diễn giải và kết hợp tất cả các Pháp dẫn dắt đến Bộ Thứ 7, là Bộ Đại Phát Thú đúc kết tất cả cốt lỏi và tinh hoa yếu lược của Phật Pháp. Kinh Phát Thú bao chứa tất cả cốt lỏi của Vô Tỷ Pháp Tạng, là nơi của Bậc Trí Toàn Giác tiến hành đi lại suy ngẫm chiêm nghiệm tất cả các Pháp. Tạng Vô Tỷ Pháp là yếu mạch của Giáo Pháp bao gồm 42,000 Pháp môn trong tất cả 84,000 Pháp môn của Đức Phật. Kinh Tạng bao gồm 24,000 và Luật Tạng bao gồm 24,000 Pháp môn. Vô Tỷ Pháp Tạng bao gồm 7 Bộ:
- Bộ Pháp Tụ
- Bộ Phân Tích
- Bộ Nguyên Chất Ngữ
- Bộ Nhân Chế Định
- Bộ Ngữ Tông
- Bộ Song Đối
- Bộ Phát Thú
3. THỜI GIAN CỦA BỘ KINH PHÁT THÚ
Do báo hiếu cho Thiên Mẫu là Hoàng Hậu Maya, vào Hạ thứ bảy Đức Phật thuyết giảng Vô Tỷ Pháp Tạng để độ cho Mẹ và Chư Thiên. Sau khi Đức Phật giảng Vô Tỷ Pháp Tạng ở Đao Lợi Thiên thì có 800 triệu Chư Thiên được chứng đắc Sơ Đạo, Sơ Quả (Thất Lai). Đây là lần mà Đức Phật độ nhiều chúng sanh nhất trong 45 năm Đức Phật hóa độ chúng sanh. Đức Phật không thuyết giảng Vô Tỷ Pháp Tạng cho nhân loại. Đức Phật chỉ trùng tuyên Vô Tỷ Pháp cho Ngài Xá Lợi Phất sau khi thuyết giảng cho Chư Thiên ở cung Trời Đao Lợi. Đức Phật trùng tuyên Vô Tỷ Pháp cho Ngài Xá Lợi Phất theo Mẫu Đề như trong Bộ Pháp Tụ. Ví dụ, một trong những mẫu đề là Mẫu Tam Đề có 3 Pháp là:
- Pháp Thiện do Nhân Vô Tham, Vô Sân, Vô Si làm mãnh lực.
- Pháp Bất Thiện là do Nhân Tham, Sân, Si làm mãnh lực.
- Pháp Vô Ký do nhân Vô Tham, Vô Sân, Vô Si.
Ngài Xá Lợi Phật (với danh hiệu là Tướng Quân Pháp Vương) do trí tuệ siêu việt mà kết tập những lời trùng tuyên của Đức Phật thành Tạng Vô Tỷ Pháp. Khi Ngài Xá Lợi Phất thuyết giãng Vô Tỷ Pháp cho các vị Tỳ Khưu thì có 500 vị chứng đắc Quả Vị A La Hán. Thế mới biết là năng lực của Vô Tỷ Pháp Tạng rất vi diệu đến con đường giải thoát Níp Bàn.
Nhờ ơn của Đức Phật và Ngài Xá Lợi Phất mà ngày nay chúng ta có Tạng Vô Tỷ Pháp, chỉ cho chúng ta thấy rõ nguồn gốc và vị trí của các Pháp chung quanh ta, các Pháp trong ta, và các Pháp đưa ta đến thành đạt Đạo Quả Níp Bàn.
4. NỘI DUNG CHÍNH CỦA BỘ ĐẠI PHÁT THÚ
Kinh Đại Phát Thú có 3 nội dung chính
- Nội Dung Thứ Nhất: Trình bày các loại Duyên. Có 24 Duyên được trình bày và sắp xếp theo thứ tự theo thực tính, mãnh lực, và tầm quan trọng của từng Duyên. 24 Duyên nầy làm mãnh lực, năng lực ảnh hưởng, và tạo tác sự xuất sinh của các pháp (Duyên sinh ra các Pháp) - gọi là Duyên Sinh. Mãnh lực làm liên hệ của các Pháp - gọi là Duyên Hệ; và mãnh lực bảo trì hay bảo hộ cho các Pháp được tồn tại - gọi là Duyên Bảo Hộ. Theo như các Bộ Chú Giải thì có 47 Duyên giảng giải theo nghĩa rộng của 24 Duyên. Duyên là Paccaya.
Ví Dụ
- Người Mẹ là mãnh lực xuất sinh hay duyên xuất sinh cho người con
- Người Mẹ và người con có sự liên hệ do mãnh lực liên hệ của Duyên
- Người Mẹ có mãnh lực bảo tồn cho người con
** Do đâu mà có các Pháp? Do mãnh lực Duyên (duyên sinh, duyên hệ, duyên bảo hộ) mà có các Pháp.
(2) Nội Dung Thứ Nhì: Trình bày hay phân tích Pháp. Trình bày Thực Tính Pháp theo 24 Duyên. Thực Tính Pháp (Sabhàva dhamma) là đặc tính riêng, thực tính hiện hữu của Pháp, và không thay đổi theo thời gian.
Ví Dụ
- Pháp Thiện: Là việc tốt, điều hay, và sự đẹp.
- Thực tính của Pháp Thiện: Là sự phối hợp của Tâm Thiện và Tâm Sở Thiện (Tâm Tịnh Hảo) Vô Tham, Vô Sân, Vô Si.
- Pháp Thiện có thể thay đổi qua các việc làm, hành động Thiện khác nhau như (xả thí, cúng dường, tu tâm, sửa tánh, hành thiền) nhưng tất cả các việc Thiện ấy điều có thực tính của Pháp là Vô Tham, Vô Sân, Vô Si của Tâm Thiện và Tâm Sở Thiện và không thay đổi.
Ghi Nhớ
Con người có thực tính gì? Con người có thực tính tham, sân, si hay vô tham, vô sân, vô si. Hai người gặp nhau hay tiếp xúc với nhau không phải do ngẩu nhiên mà là do thực tính của hai người và mãnh lực Duyên Sinh, Duyên Hệ, và Duyên Bảo Hộ.
- Nội Dung Thứ Ba: Sự tiến hành và đi lại trong Pháp của Bậc Trí Toàn Giác (gọi là Trí Tuệ Đức Phật).
Bậc Trí Toàn Giác suy nghĩ cái chi và Ngài dùng trí tuệ để làm điều gì?
Đức Phật dùng trí tuệ thấy rõ thực tính và thực tướng của mọi Pháp trong thế gian và cho chúng ta biết là con người, hay các Pháp chịu sự chi phối, tác động, và ảnh hưởng bởi ba điều là:
- Ba Chiều không gian
- Ba thời gian (thời quá khứ, thời hiện tại, và thời vị lai)
- Ba lực tương tác là lực đẩy, lực ngăn cản, và lực trì kéo
Sự kết hợp của ba chiều không gian, ba thời gian, và ba lực tương tác tạo ra một sự vận hành, hoại diệt, và sinh ra không ngừng nghĩ – và đó là Vô Thường. Đó cũng là một sự luân hồi. Con người và các Pháp trong thế gian luôn chịu ảnh hưởng và thay đổi theo sự vận hành, hoại diệt, và sinh lại nầy.
Như thế nào mà nói là Bậc Trí Toàn Giác tiến hành, hay đi lại trong các Pháp? Sự tiến hành, đi lại của Bậc Toàn Giác là sự chiêm nghiệm, suy ngẫm, và thấu triệt các Pháp, thực tính của các Pháp, và sự ảnh hưởng chi phối đến các Pháp do ba chiều không gian, thời gian, và lực tác động. Sau khi thấu triệt về các Pháp Bậc Trí Toàn Giác mới nói về các Pháp cho chúng sanh.
Con người dùng trí thức (kiến thức) để nhìn mọi việc nên không thấy được bản chất thật (thực tính) của thế gian và không thấy được con người cũng như vạn vật luôn chịu sự tác động ảnh hưởng của ba chiều không gian, ba thời gian (quá khứ, hiện tại, vị lai), và ba lực tác động (đẩy, cản, trì kéo) mà vận hành, hoại, diệt, sinh lại không ngừng nghỉ tạo một vòng luân hồi. Ngay khi ta đang nói một điều gì, làm một điều gì, nghĩ một điều gì ta cũng bị một sự đẩy, cản, và trì kéo.
Biết được như thế ta sẽ nhận thấy được thực tính của Pháp và bẻ gãy cái vòng tròn luân hồi dùng con đường Đạo.
Trong mỗi điều Pháp, khi theo mãnh lực từ nơi Duyên, thì làm mãnh lực cho rất nhiều Duyên. Và trong từng mỗi loại Duyên cũng có nhiều chi Pháp sai khác nhau.
Ghi Nhớ
- Tìm thấy mãnh lực Duyên tác động
- Mau lẹ tìm thấy thực tính Pháp của Duyên
- Dùng Trí Tuệ Đức Phật để xử dụng hay bẻ gãy Duyên đó.
