Patthana 122
TỰ LUẬN
Tam Tạng kinh điển Phật Giáo với những lời giáo đạo Phật Pháp hết sức trọng yếu đối với Chư Tỳ Khưu, Sa Di và các hàng Phật Tử tại gia dụng công nghiên cứu học hỏi để cho được thấu hiểu về Pháp Luật (DhammaVinaya) và thực hành theo cho thành tựu viên mãn. Với duyên cớ như vậy, Tam Tạng mới được gọi là Pháp Học Giáo Truyền (Pariyattisaddhamma) là bởi tác thành Nhân Cận (Padaṭṭhāna) cho khởi sinh Pháp Hành Giáo Nghiệm (Paṭipattisaddhamma) tức là Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā) và Pháp Thành Chánh Pháp (Pativedhasaddhamma) tức là Đạo (Magga), Quả (Phala) và Níp Bàn (Nibbāna) là tột cùng.
Hàng Tăng Chúng Thinh Văn (Saṅghasāvaka) khi đã được nhìn thấy tầm quan trọng của Tam Tạng kinh điển cần phải tiếp nối lưu truyền để cho thọ mạng Phật Giáo được lâu dài, chẳng hạn như Ngài Chí Thượng Thinh Văn bên phải (Aggasāvaka) Sāriputta được nhắc đến trùng tụng Pháp Luật như đã hiện bày ở trong bài Kinh Phúng Tụng (Saṅgīti Sutta, # 33 – Trường Bộ Kinh). Khởi nguyên, khi mà Đức Phật vẫn chưa có Viên Tịch Níp Bàn (Parinibbāna) thì tất cả Pháp Luật đã được đề khởi ở trong đường lối của việc trùng tụng theo khẩu truyền trong thời gian lâu dài. Tiếp đến, sau khi Đức Phật Viên Tịch Níp Bàn (Parinibbāna) thì hàng Tăng Chúng Thinh Văn đã thực hiện việc trùng tụng lần đầu tiên với sự kiết tập những lời giáo huấn của Đức Chánh Đẳng Giác sắp thành Tam Tạng kinh điển, đó là Tạng Luật (Vinayapiṭaka), Tạng Kinh (Suttantapiṭaka) và Tạng Vô Tỷ Pháp (Abhidhammapiṭaka). Các hàng Tăng Chúng Thinh Văn tiếp nối theo sau đã bắt chước miệng truyền miệng gọi là Khẩu Truyền (Mukhapāṭha) trong việc trùng tụng Pháp Luật tức là Tam Tạng, và mãi cho đến việc trùng tụng ở lần thứ năm vào khoảng Phật Lịch 433 tại Đảo Quốc Sri Lanka trong triều đại của Đức Vua Vaṭṭagāmaṇī Abhaya qua việc khắc ghi làm thành văn bản.
Tam Tạng ấy bằng văn tự Magadha (Magadhabhāsā) hoàn hảo với nội dung và phụ âm mẫu tự. Và từ pháp của văn tự Magadha được làm theo đường lối cho thấu hiểu được nội dung, tức là ý nghĩa nội dung của văn tự Magadha (Magadhabhāsā) thật là tốt đẹp. Người học sẽ thông hiểu Tam Tạng ấy cần phải học cho thông hiểu được từ pháp của văn tự Magadha (Magadhabhāsā). Phương thức cầu học Tam Tạng với việc khắn khít ở trong tâm thì trước tiên người học viên cần phải làm cho thấu hiểu chính xác ý nghĩa của văn tự Magadha. Và việc học sẽ thông hiểu Tam Tạng cho được uyên bác và tinh thông thì cần phải học thông hiểu được Bộ Chú Giải (Aṭṭhakathā), là bộ kinh sách giải thích nội dung của Tam Tạng ấy, và nắm lấy Bộ Chú Giải cho làm thành nhà chỉ đạo mẫu mực. Kế tiếp theo sau là đến việc kiểm tra sự hiểu biết của các Chư Tỳ Khưu, Sa Di học viên Tam Tạng nhằm để khen ngợi các Chư Tỳ Khưu, Sa Di có tri thức Phật Pháp uyên bác ở trong Tam Tạng ấy. Sự việc như vừa đề cập ở đây xem như là trách nhiệm đạo hành hết sức trọng yếu của Phật Giáo và của Vương Quốc. Bởi vì Quốc Vương là Bậc Tôn Giáo Tài Trợ Đệ Nhất, là một Phật Tử và đã phụng hiến sự tài trợ đến Chư Tỳ Khưu, Sa Di cho có sự nghiên cứu học hỏi kể cả việc khảo thí sự hiểu biết ở trong Tam Tạng ấy, nơi được gọi là “Khảo Thí Giáo Pháp Phật Học Đường Pāḷī” luôn giữ vững truyền thống ở trong Quốc Giáo Thái Lan mãi cho đến ngày hôm nay.
Trong việc nghiên cứu học hỏi tri thức Phật Pháp ở trong Tam Tạng như đã vừa đề cập tại đây thì kể từ thời cổ đại đã có việc dịch thuật Tam Tạng từ văn tự Magadha sang thành Thái Ngữ; đặc biệt khởi điểm từ thời Đức Đệ Tam Thế Vương của Vương Triều Bangkok Phật Lịch 2325 (Dương Lịch 1781), với lòng thương tưởng đã đề nghị cho việc dịch thuật Tam Tạng và đã cung thỉnh các Bậc Đại Trưởng Lão Cao Tăng vào Đại Vương Cung để được kính hiến Giáo Truyền Phật Pháp với việc biên soạn Giáo Truyền Phật Pháp (Dhammadesanā) này cho thành việc dịch thuật Tam Tạng (Tipiṭaka), Chú Giải (Aṭṭhakathā) và Phụ Chú Giải (Ṭīkā) với hình thức phiên dịch từ Pāli Ngữ ra Thái Ngữ theo ý nghĩa nội dung và có xen lẫn nguyên văn của từ ngữ Pāli, tức là rút lấy từ ngữ Pāli lên cho đặt ở phần Tổng Kết (Nikkheppada) rồi lấy phần Chú Giải (Aṭṭhakathā) để giải thích làm cho nội dung chính bản được thêm phần hoàn hảo. Và do được thông qua việc kiểm duyệt của Ban Quản Trị mà có Đức Ngài Tăng Vương làm vị chủ quản đã làm cho việc kính hiến Giáo Truyền Phật Pháp (Dhammadesanā) được chuẩn xác.
Thế nhưng, đặc biệt là phần lớn rặt chỉ có mỗi việc dịch thuật Tạng Kinh (Suttantapiṭaka), còn việc dịch thuật Tạng Luật (Vinayapiṭaka) và Tạng Vô Tỷ Pháp (Abhidhammapiṭaka) thì ít oi; luôn cả về mục đích và văn pháp ngôn từ trong việc dịch thuật cũng có sự sai biệt và lệch lạc với nhau rất nhiều, không có khả năng trông coi cho được tiếp nối hoàn mãn một cách mạch lạc suốt trọn cả ba Tạng.
Tiếp đến khi Phật Lịch 2483 (Dương Lịch 1939), Đức Ngài Tăng Vương xứng vị Ariyavaṅsāgata Ñāṇa (Tissadeva Mahā Thera) đã đề cập đến tầm vóc quan trọng của việc dịch thuật Tam Tạng ở trong Hội Chúng Các Bậc Đại Trưởng Lão Cao Tăng rằng nên tiến hành công việc dịch thuật Tam Tạng tròn đủ hết cả ba Tạng một cách hoàn mãn để làm thành Lễ Vật tôn kính vinh danh Vương Uy của Đức Quốc Vương và làm thành chỗ vinh danh chính phủ của chế độ dân chủ cho được hiện bày quãng đại đến khắp cả các quốc gia. Và đề nghị cho Ủy Ban Chủ Nhiệm, Ban Lãnh Đạo thay thế của Đức Ngài Tăng Vương cho có được sự bảo trợ từ nơi Chính Phủ, có Ngài Nguyên Soái Vipūlasoṅgharām là vị Thủ Tướng ở trong thời lúc này, nhằm để cho tiến hành công việc dịch thuật và sắp đặt việc xuất bản Tam Tạng qua việc thành lập Ủy Ban Phiên Dịch Tạng Luật (Vinayapiṭaka), Tạng Kinh (Suttantapiṭaka) và Tạng Vô Tỷ Pháp (Abhidhammapiṭaka). Công viêc dịch thuật được thực hiện tiếp nối với nhau ở trong sự bảo trợ của Đức Quốc Vương A Nam Đệ Bát Thế Vương.
Việc dịch thuật và sắp đặt việc xuất bản Tam Tạng trong lần thứ nhứt đã lấy Phiên Bản văn tự Magadha (Magadhabhāsā) làm thành Phiên Bản đầu tiên của Xứ Xiêm La. Phân chia viêc dịch thuật ra làm hai thể loại ngôn ngữ; với một thể loại ngôn ngữ là theo ý nghĩa nội dung ở trong Phiên Bản Pāli làm thành quyển sách, gọi là Tam Tạng Pāli - Thái Ngữ có số lượng 2,500 bộ, mỗi bộ 80 quyển để cho bằng với tuổi thọ của Đức Chánh Đẳng Giác có tuổi thọ là bát thập niên linh (80 Vassā). Một thể loại ngôn ngữ khác đã dịch thuật Phiên Bản Ngôn Ngữ Giáo Pháp ra Thái Ngữ để ở trong bối diệp thư gọi là Tam Tạng Giáo Truyền Phiên Bản Của Nhà Nước chia thành 1,250 Chương (Kaṇḍa) để cho bằng với số lượng của hàng Tăng Chúng Thinh Văn (Saṅghasāvaka) đến cưu hợp lắng nghe Đức Chánh Đẳng Giác Giáo Giới Biệt Biệt Giải Thoát Giới (Ovāda Pātimokkha) lần đầu tiên. Trong số lượng ấy, chia 182 Chương (Kaṇḍa) là Tạng Luật (Vinayapiṭaka), 1,054 Chương là Tạng Kinh (Suttantapiṭaka) và 14 Chương là Tạng Vô Tỷ Pháp (Abhidhammapiṭaka). Sắp xếp Phiên Bản là để tưởng niệm nhân dịp Phật Giáo đã được thọ mạng niên trường đến 25 thế kỷ Phật Lịch.
Trong Phật Lịch 2514 (Dương Lịch 1970) đã có Phiên Bản Tam Tạng Thái Ngữ. Phiên Bản này là ấn bản lần thứ hai cực kỳ quý giá hữu quan đến triều đại của Đức Quốc Vương Adulyadej Bhumibol, Đệ Cửu Thế Vương đã trị vì vừa tròn đủ 25 năm, được gọi là Tam Tạng Thái Ngữ Phiên Bản Của Nhà Nước với 2,000 bộ, mỗi bộ 45 quyển bằng với số lượng Phiên Bản Tam Tạng văn tự Magadha (Magadhabhāsā) của Xứ Xiêm La.
Trong Phật Lịch 2521 (Dương Lịch 1977) lại có việc xuất bản Tam Tạng một lần nữa. Phiên Bản này là ấn bản lần thứ ba, số lượng 2,000 bộ thể theo sự kỳ vọng cần phải kiến tạo từ ở nơi tầng lớp Tăng Đoàn và dân chúng. Và trong Phật Lịch 2525 (Dương Lịch 1981) lại có việc xuất bản Tam Tạng thêm một lần nữa. Phiên Bản này là ấn bản lần thứ tư, số lượng 3,000 bộ hữu quan đến dịp Khánh Chúc Nhị Bách Chu Niên Kinh Đô Bangkok (được tròn 200 năm).
Trong Phật Lịch 2527 (Dương Lịch 1983), Đức Ngài Tăng Vương xứng vị Ariya Vaṅsāgata Ñāṇa (Vāsana Mahā Thera) đã đề khởi rằng Đức Quốc Vương Adulyadej Bhumibol Đệ Cửu Thế Vương, là một Đấng Quốc Vương, là một Phật Tử, là Bậc phong công vĩ tích đối với Phật Giáo vô lượng công đức, sẽ có tuổi thọ lục thập niên linh (60 Vassā) vào trong Phật Lịch 2530 (Dương Lịch 1986), mới đem trình báo sự việc này cho Hội Chúng Các Bậc Đại Trưởng Lão Cao Tăng được tường tri và xin sự bảo trợ từ nơi Chính Phủ, có Ngài Thủ Tướng Nội Các Uy Quyền Đệ Nhất Prem Tiṇsūlānon, Tổng Lý Quốc Vụ Viện để kính hiến việc trùng tụng, kiểm duyệt hiệu đính và sắp đặt việc xuất bản Tam Tạng.
Việc trùng tụng Tam Tạng trong ngày Vương Gia Điển Lễ Ngũ Giáp Chu Niên đã được thiết lập ở tại Chùa Sarīratanasāsadāram cho Đức Quốc Vương. Và đã tiến hành việc thành lập Ủy Ban Hiệu Đính Tam Tạng Pālī (Pālīvisothaka) và Ủy Ban Chấp Hành Đặc Biệt Tam Tạng để cho thực hiện việc kiểm duyệt hiệu đính Phiên Bản Tam Tạng văn tự Magadha (Magadhabhāsā) Xứ Xiêm La vẫn còn có sự thiếu sót sai lạc cho được viên mãn hoàn hảo. Việc kiểm duyệt hiệu đính Phiên Bản Tam Tạng này đươc thực hiện tại Phủ Tự Ngài Tăng Vương Maha That (Chùa “Hoàng Thái Tử Mahādhātu Thiết Lập” – Wat Mahādhātu yuvarājaraṅsod) xem như là việc làm ở đẳng cấp Quốc Gia và Phật Giáo. Và rồi đã có việc xuất bản Tam Tạng văn tự Magadha, với 1,000 bộ cho Phiên Bản “Tam Tạng Kiết Tập Pālī – Thái Ngữ” (Saṅgīti Tepiṭaka), và 3,000 bộ cho Phiên Bản “Tam Tạng Dịch Thuật và Hiệu Đính” cho kịp với Vương Gia Điển Lễ Ngũ Giáp Chu Niên của Đức Quốc Vương Adulyadej Bhumibol (tròn 60 tuổi vào năm 1986).
Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường Trong Sự Bảo Trợ Của Đức Quốc Vương
Phật Học Viện Mahā Cūlalongkorn với Huân Chương cao quý của Đức Quốc Vương Chí Tôn Đệ Ngũ Thế Vương, đã được thành lập ở tại Chùa Maha That (Chùa “Hoàng Thái Tử Mahādhātu Thiết Lập” – Wat Mahādhātuyuvarājaraṅsod) kể từ Phật Lịch 2432 (Dương Lịch 1888) đã được Đức Quốc Vương ban tặng tên gọi là Maha That Đại Học Đường (Mahādhātu Vidhayalay) đặng cho làm chỗ nghiên cứu học hỏi Tam Tạng và các môn Khoa Học Cao Cấp của Tăng Đoàn Hệ Phái Mahā Nikāya (Đại Chúng Bộ). Và bảy năm sau với lòng thương tưởng, Đức Quốc Vương khâm tứ cho việc đổi mới tên gọi là Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường Hoàng Gia (Mahā Cūlalongkorn Rājavidhayalay) khi đó Phật Lịch 2439 (Dương Lịch 1895) nhằm để tiếp tục làm cho tăng thêm sự tôn kính vinh danh Vương Uy của Đức Quốc Vương. Tiếp đến, Đức Ngài Buthācāriya (Āsabha Mahā Thera) vị Trụ Trì Chùa Maha That và Chủ Tịch Hội Nghị Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường Hoàng Gia đang khi ấy thọ trì chức danh “Bậc Khiết Tịnh Pháp” (Vimaladhamma) đã được đề cập đến và đáp ứng nguyện vọng của Đức Quốc Vương, Ngài đã thành lập và kiến tạo nội dung chính cho thành điều lợi ích lớn nhỏ sẽ cần có đối với Phật Giáo. Và để tưởng nhớ đến Phật Giáo đã được duy trì miên trường đến 2500 năm Phật Lịch, đã có việc kiểm duyệt hiệu đính, thẩm tra đối chiếu và sắp bày việc in ấn Phiên Bản Tam Tạng văn tự Magadha với Phiên Bản Tam Tạng Mahā Cūla longkorn cho được hoàn hảo viên mãn, bằng cách nêu lên từng điều, từng đoạn văn của bài Kinh cho rõ ràng. Bài kinh và chủ đề của các Chi Pháp đã được nêu lên, vốn dĩ từ xưa không có ở trong Tam Tạng và cũng không có sự phối hợp trong việc phân tích văn phạm Pāli ở thể loại “Bất Phân Tích Xiển Minh” (Avibhattika Niddesa).
Mục đích trọng yếu là để cho làm thành kinh thư trong việc nghiên cứu học hỏi của các Sinh Viên Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường. Nội dung của câu chuyện này, Đức Quốc Vương tài trí vô song Adulyadej Bhumibol Đệ Cửu Thế Vương, Đức Vương Hậu Sirikitti cùng với Đức Vương Mẫu Hậu và Đức Ngài Đô Trưởng đã được rõ biết. Thế nhưng từng mỗi Vị lại có niềm Tín Thí (Rājasaddhā) và đã Phóng Khí (Pariccāga) Vương Sản theo riêng của mỗi vị nhằm để kiến tạo Phiên Bản Tam Tạng văn tự Magadha, Phiên Bản Tam Tạng Mahā Cūlalongkorn, với từng mỗi vị là 70,000 Bath; tổng kết lại thành 210,000 Bath, đó là tiền vốn khởi phát đầu tiên trong việc xuất bản Phiên Bản Tam Tạng này. Tiếp đến, đã có người tiến hóa ở hạng Lưỡng Túc (Yugalapāda) với Đức Tin, bằng cách đã làm cho Phiên Bản Tam Tạng Hoàng Gia này cho được tròn đủ 45 quyển. Và tiếp đến, Ông Ratanasuvaṇṇa, Giám Đốc Trung Tâm Phát Triển Tôn Giáo Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường, trong sự bảo trợ của Đức Quốc Vương và qua sự tán đồng của Hội Đồng Đại Học Đường, đã tập hợp các Bậc Hiền Trí hàng Tôn Giáo Phẩm kiểm duyệt hiệu đính và sắp đặt việc xuất bản Bộ Chú Giải (Aṭṭhakathā) và Bộ Phụ Chú Giải (Ṭīkā) văn tự Magadha, Phiên Bản Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường, một cách hoàn hảo viên mãn. Và Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường cũng trong sự bảo trợ của Đức Quốc Vương đã có Đại Lễ Khánh Chúc Tam Tạng cùng với cả Bộ Chú Giải (Aṭṭhakathā) trong Phật Lịch 2535 (Dương Lịch 1991)
Hiện nay, trong sự bảo trợ của Đức Quốc Vương, Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường đã đề khởi việc dịch thuật Phiên Bản Tam Tạng Mahā Cūlalongkorn văn tự Magadha cho thành Thái Ngữ; với mục đích của việc dịch thuật Tam Tạng Thái Ngữ là để cho Chư Tỳ Khưu, Sa Di, và hàng Phật Tử tại gia đọc được một cách dễ dàng. Và cũng trong sự bảo trợ của Đức Quốc Vương, nhằm để cho khắp cả mọi người quan tâm đến việc liễu tri được nội dung Tam Tạng và cho làm thành Giáo Khoa Thư đối với các Sinh Viên thuộc Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường trong việc nghiên cứu học hỏi Phiên Bản Tam Tạng Mahā Cūlalongkorn văn tự Magadha, sẽ nắm bắt một cách chuẩn xác đường lối trong việc liễu tri Tam Tạng văn tự Magadha cho thật rõ ràng, mới thành lập ra Ban Điều Hành, Ban Dịch Thuật, Ban Kiểm Duyệt Văn Phong Ngôn Từ, Ban Cố Vấn, Ban Chủ Biên và Ban Biên Soạn phối hợp với các Bậc Đại Trưởng Lão Cao Tăng và các Bậc Hiền Trí hàng Tôn Giáo Phẩm, là các Bậc có nhiều Ân Đức và Trình Độ Học Vấn đến chủ trì việc dịch thuật. Tất cả đều được kính hiến trong sự bảo trợ của Đức Quốc Vương bởi do thượng tấu của Đức Thiên Bảo Nữ Vương Tử (Devaratana kumārī). Xiêm La Nữ Vương Tử Ngài là vị chủ trì việc bảo trợ.
Lại nữa, trong việc dịch thuật và sắp đặt việc in ấn Tam Tạng lần này, Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường trong sự bảo trợ của Đức Quốc Vương có mục đích một cách đặc biệt là để tôn kính vinh danh Vương Uy của Đức Vương Hậu Sirikitti hữu quan đến thời điểm tiến hóa kiết tường Vương Thọ Lục Thập (60) niên linh trong Phật Lịch 2535 (Dương Lịch 1991). Và có Ngài Thủ Tướng Nội Các Chuan Lekphai là Tổng Lý Quốc Vụ Viện đã nhìn thấy tầm quan trọng trong sự kiện này mới kính hiến sự tài trợ bằng cách cung cấp ngân sách, đất đai đặng cho tiến hành việc dịch thuật và sắp đặt việc in ấn Tam Tạng cho được trọn vẹn, và được coi như là phong công vũ tích hết sức to lớn đối với Phật Giáo. Và Tam Tạng Thái Ngữ này, Phiên Bản Mahā Cūlalongkorn Đại Học Đường đã được hoàn thành viên mãn một cách tốt đẹp.
Xin cho mãnh lực từ ở nơi Ân Đức Tam Bảo, mãnh lực từ ở nơi Tư Tác Ý Thiện (Kusalacetanā) trong việc dịch thuật và sắp đặt việc in ấn Tam Tạng hãy là Cường Lực Duyên (Balavapaccaya) cầu xin cho các đấng thần linh thiêng liêng phù hộ cho Đức Quốc Vương Adulyadej Bhumibol, Đức Vương Hậu Sirikitti, Đức Vương Mẫu Hậu, Đức Nam Vương Tử, Đức Nữ Vương Tử, luôn cả các Vương Thân Quốc Thích cho được tiến hóa miên trường. Xin cho Chính Phủ ở trong triều đại của Đức Quốc Vương hãy cho đạt được sự thành tựu trong việc quản trị quốc sự. Xin cho tất cả chúng hữu tình, tất cả mọi loài chúng sinh có được sự an vui, xa lìa đau khổ, xả ly sầu muộn, xa lìa tất cả tai ương tật ách. Hãy cho có sự hân hoan duyệt ý trong mọi thời mọi lúc luôn mãi được miên trường.
CIRAṂ TIṬṬHATU LOKASMIṂ SAMMĀSAMBUDDHASĀSANAṂ
Xin cho Giáo Pháp của Đức Chánh Đẳng Giác
hãy luôn được duy trì ở trong thế gian suốt thời gian lâu dài.
MAHĀ CŪLALONGKORN ĐẠI HỌC ĐƯỜNG
TRONG SỰ BẢO TRỢ CỦA ĐỨC QUỐC VƯƠNG
-----------------------00000-----------------------
DẪN NGÔN
Phát Thú (Paṭṭhāna) là bộ Kinh thứ bảy của Tạng Vô Tỷ Pháp (Abhidhammapiṭaka)
Tạng Vô Tỷ Pháp có tất cả bảy bộ, đó là:
(1) Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī),
(2) Phân Tích (Vibhaṅga),
(3) Nguyên Chất Ngữ (Dhātukathā),
(4) Nhân Chế Định (Puggalapaññatti),
(5) Ngữ Tông (Kathāvatthu),
(6) Song Đối (Yamaka),
(7) Phát Thú (Paṭṭhāna).
Cả bảy bộ kinh này đã được Đức Thế Tôn lập ý khải thuyết lần đầu tiên ở tại Cõi Đao Lợi Thiên (Tvātiṃsa) vì lòng thương tưởng đến Đức Từ Mẫu, là Đức Ngài Mahā Māyā đã đi thụ sinh thành Thiên Tử có tên gọi là Santusita ngự ở tại Cõi Đâu Suất Đà Thiên (Tusita). Đức Thế Tôn đã lập ý khải thuyết liên tục cả ngày lẫn đêm, không ngưng nghỉ suốt trọn ba tháng (của Cõi Nhân Loại). (Chú Giải Tạng Vô Tỷ Pháp điều 1 / 83, Thanh Tịnh Đạo điều 2 / 21).
SỰ TRỌNG YẾU CỦA PHÁT THÚ (PAṬṬHĀNA)
Cả bảy Bộ Kinh của Tạng Vô Tỷ Pháp này, Đức Thế Tôn đã lập ý thẩm sát liên tục suốt bảy ngày. Tiếp đến trong tuần lễ thứ tư, sau khi đã giác ngộ Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác tại cội cây Đại Bồ Đề (Mahābodhi), địa danh mà Ngài ngồi để thẩm sát có tên gọi là “Thủy Tinh Cung Bảo Tháp” (Ratanaghara Cetiya) [đôi khi còn gọi là “Thất Thủy Tinh Cung Bảo Tháp” (Satta Ratanaghara Cetiya)]. Tất cả ở tại đây, là để tưởng nhớ đến địa danh mà Ngài đã thẩm sát bảy Bộ Kinh của Tạng Vô Tỷ Pháp này. (Chú Giải Tạng Vô Tỷ Pháp điều 1 / 82; Chú Giải Túc Sinh Truyện, Tiểu Bộ Kinh điều 1 / 114).
Nhà Chú Giải soạn tác Bộ Chú Giải Aṭṭhasālinī đề cập đến sự trọng yếu của Bộ Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) rằng tính kể từ ngày giác ngộ đến sát na Đức Thế Tôn thẩm sát hiệu duyệt lại sáu Bộ Kinh đầu của Tạng Vô Tỷ Pháp thì không có hào quang sáu màu phún tủa ra khắp cả kim thân của Ngài. Khi vừa thẩm sát đến Bộ Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) hoặc Ngài gọi là “Đại Kinh Điển”(Mahā Pakaraṇa) thì hào quang sáu màu phún tủa ra, có lẽ là vì trong Bộ Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) có phần rộng lớn quảng khoát tựa như vực sâu ở trong đại dương; như Ngài đã gọi là “Phần Đại Dương” (Naya Sāgara) là nơi mà Toàn Giác Trí (Sabaññutañāṇa) của Đức Thế Tôn có được cơ hội hiển thị năng lực một cách mãn túc. Cũng như thế “Nước Đại Dương” (Jala Sāgara) là vực sâu ở trong đại dương sâu thẳm đến 84,000 do tuần, là nơi mà kình ngư tên gọi Timira và Pingala có được cơ hội hiển thị năng lực bơi lội thỏa thích một cách mãn túc. Việc hiển thị năng lực của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa) ở đây, chính là tác nhân làm cho hào quang sáu màu phún tủa ra khắp cả kim thân. (Chú Giải Tạng Vô Tỷ Pháp điều 1/12 - 15).
Với duyên cớ như vậy mới được xem là Bộ Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) phát sinh từ mãnh lực của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa) và là bản chất (Visaya) một cách đặc thù của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa), do đó mới có ý nghĩa và nội dung cực thậm thâm hơn cả các Bộ Kinh nào khác ở trong Tam Tạng. Khốn khổ cho người nào sẽ có khả năng trắc lượng được hết toàn bộ. Nhà Chú Giải cổ xưa mới gọi Bộ Kinh này là “Vô Gián Đẳng Vô Gián Đại Kinh” (Anantanayasamanta Paṭṭhāna Mahāpakaraṇa), một Bộ Kinh rộng lớn có rất nhiều phân loại, kỳ diệu và vô cùng trọng yếu. (Bộ Đại Kinh Phát Thú (Paṭṭhāna) rộng lớn, quảng khoát với hàng loạt vô lượng ý nghĩa vây quanh – Chú Giải Tạng Vô Tỷ Pháp điều 3 / 573).
Ý NGHĨA CỦA PHÁT THÚ (PAṬṬHĀNA)
Từ ngữ Phát Thú (Paṭṭhāna) được dịch là “việc khởi phát, việc khai sáng, khởi điểm, khởi nguyên, nguyên nhân.” Thế nhưng trong chỗ này, tên gọi của Bộ Kinh có ba ý nghĩa, đó là:
- Chỗ gọi là Phát Thú (Paṭṭhāna) vì có nội dung là: Trình bày tất cả các thể loại Duyên sai khác nhau (Kenaṭṭhena paṭṭhānanti nānappakāra paccayaṭṭhena). Tức là Bộ Kinh mà Đức Thế Tôn lập ý đem các thể loại Duyên sai khác nhau đến tập hợp lại để trình bày một cách quảng nghĩa.
- Chỗ gọi là Phát Thú (Paṭṭhāna) vì có nội dung là: Phân tích Pháp Thực Tính (Sabhāvadhamma) với các thể loại Duyên sai khác nhau (Kenaṭṭhena paṭṭhānanti vibhajanaṭṭhena). Tức là Bộ Kinh lập ý dẫn các Pháp Thực Tính sai khác nhau chẳng hạn như Pháp Thiện (Kusaladhamma), Pháp Bất Thiện (Akusaladhamma), Pháp Vô Ký (Abyākatadhamma) tập hợp lại gọi là Tam Đề Thiện (Kusalatika) đem đến phân tích theo thể loại của Duyên.
- Chỗ gọi là Phát Thú (Paṭṭhāna) vì có nội dung là: Nơi sinh hoạt của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa) (Kenaṭṭhena paṭṭhānanti paṭṭhitaṭṭhena). Tức là Giáo Truyền Phật Pháp (Dhammadesanā) khởi sinh với mãnh lực của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa) và là bản chất (Visaya) một cách đặc thù của Bậc Toàn Giác Trí (Sabaññuta Ñāṇa). (Chú Giải Tạng Vô Tỷ Pháp điều 3 / 393).
Tóm lại, Phát Thú (Paṭṭhāna) là Bộ Kinh mà Đức Thế Tôn lập ý đem Pháp Thực Tính (Sabhāvadhamma) ra làm thành điểm khởi phát, tức là số lượng 24 thể loại Duyên (Paccaya) lấy đem đi giải thích cho thẩm sát một cách tường tận hoặc sự thục luyện và chức năng của từng mỗi thể loại; rồi lập ý đem Pháp Thực Tính (Sabhāvadhamma) ở phần Mẫu Đề (Mātikā) với số lượng 122 nhóm được trích từ Bộ Kinh Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī) của Tạng Vô Tỷ Pháp đem ra phân tích với những thể loại Duyên này, nhằm để cho thẩm thị được mối tương quan của đạo lý Nhân Quả hỗ tương lẫn nhau.
Phát Thú (Paṭṭhāna) Với Liên Quan Tương Sinh (Paṭicca samuppāda)
Đức Thế Tôn đã Giáo Truyền Phật Pháp (Dhammadesanā) nhằm để cho thẩm thị được mối tương quan của đạo lý Nhân Quả hỗ tương lẫn nhau ấy, khi đem phân tích ra thì có được hai phần, đó là:
- Phần Liên Quan Tương Sinh (Paṭiccasamuppādanaya), và
- Phần Phát Thú (Paṭṭhānanaya)
Giáo Truyền Phật Pháp ở Phần Liên Quan Tương Sinh lập ý trình bày cho thẩm thị được rằng khi đã có Tác Nhân này rồi thì sẽ có Hệ Quả chi đi tiếp nối theo hết cả một dòng sinh rồi diệt. Ngoài việc ấy ra thì vẫn còn nhấn mạnh rằng Pháp Thực Tính ở phần tác nhân quay trở lại làm được Pháp Thực Tính ở phần Hệ Quả, và Pháp Thực Tính ở phần Hệ Quả cũng quay trở lại làm được Pháp Thực Tính ở phần Tác Nhân tương tự như nhau.
Ví dụ như: “Vô Minh làm duyên cho Hành khởi sinh, Hành làm duyên cho Thức khởi sinh, …”
Trong cách thức đảo ngược lại thì “Thức cũng làm duyên cho Hành khởi sinh, Hành cũng làm duyên cho Vô Minh khởi sinh, …”
Còn trong Phần Phát Thú (Paṭṭhāna) thì lập ý giải thích mãnh lực hoặc chức năng đặc thù của từng mỗi thể loại Duyên một cách quảng nghĩa. (Tổng Hợp Nội Dung Vô Tỷ Pháp, Chương thứ tám).
